Kiến trúc Bàlamôn và kiến trúc Hối giáo Ấn Độ

Từ thế kỷ thứ IX, Phật giáo bị thu lại trong một vùng nhỏ ở Bengan, cho đến cuối thế kỷ thứ XII thì mất hẳn, chấm dứt sứ mạng 15 thế kỷ đạo Phật trên đất Ấn. Từ thế kỷ thứx, thay cho kiến trúc Phật giáo, kiến trúc đạo Bàlamỏn và kiến trúc đạo Hồi mới có điều kiện phát triển mạnh.
Nhiều quần thể kiến trúc – điêu khắc rất lớn của đạo Bàlamôn mang rõ đặc thù của từng miền. Đền đài miền Nam Ấn có dạng kim tự tháp nhiều nấc, đỉnh bẹt, cao tới 50 – 60m, nội thất có chạm khắc nhiều tượng thần thánh. Tiêu biểu là các đền Triđambaraba và đền Brihadesvara (1010) ở Tănggiơrơ (Nam Ấn), khu đền của đạo Gianh trên núi Abu (Tây Ấn). Cùng thời này, chùa miền Bắc lại có đường bao hình parabôn có múi, kết thúc bằng một hình đĩa úp có chóp gọi là bảo tháp. Ở Khagiurahô có tới 85 ngôi đền kiểu này, nay còn giữ được 22 đền, trong đó điển hình là các ngôi đền Khandaria Mahadeô ở Khaginharô  và hai đền khác 
ở Buvanesva (hình 263) rất nổi tiếng xây vào thế kỷ thứ XI và XII.
Những người Hồi giáo xâm nhập Bắc Ấn đã truyền bá nền kiến trúc đạo Hồi ở đây và đẩy dần kiến trúc Bàlamôn xuống miền Nam. Từ đây, đất nước Ấn Độ bị phân chia ra nhiều phần nhỏ do nhiều lãnh chúa phong kiến cát cứ. Những quần thể đền đài biến thành các lâu đài có thành lũy và tháp canh bao bọc xung quanh. Trên các tháp thường đặt tượng thần. Đền thường có hành lang rộng và nhiều cột. Lăng mộ được xây rất đồ sộ, có không gian nội thất lớn, có cửa cuốn hình mũi tên, mái vòm, có tiền sảnh rộng và tháp cao. Vật liệu xây dựng là đá thường và đá hoa cương chạm đục rất tinh xảo, gắn bằng vôi vữa. Kiến trúc Hồi giáo còn lưu lại nhiều công trình giá trị như ngôi đền tháp Kutbơ (lấy tên Vua Kutbơ utđin Aibac) cao nhất xưa nay, tới 73m, hiện vẫn còn ở Đêli.

 Kiến trúc Bàlamôn và kiến trúc Hối giáo Ấn Độ 1

Đến thế kỷ thứ XVI, nền chính trị kinh tế miền Bắc Ấn đi vào thời kỳ tương đối ổn định nên đã xây dựng được nhiều đô thị, cung điện, lăng mộ, lâu đài nổi tiếng như Hoàng cung ở thành Phatepur Sikri (1569 – 1574), lâu đài Giami Masgit (1571), lăng vua Humayum, lăng Tagiơ Mahan (1630 – 1653) v.v ..
Lăng TagiơMahan
Nền thống trị Mông cổ được thiết lập ở Ấn Độ kể từ vương triều Môgol năm 1526 và kéo dài trong suốt 332 năm, với ông vua đầu tiên là Babua. Vương triều này đã có 
công xây dựng nên hai thành phố đẹp nổi tiếng là Đêli và Agra.
Vua đời thứ năm tên là Sagiahan, một ông vua có xu hướng Hồi giáo, rất ham thích nghệ thuật xây dựng. Sau 19 năm chung sống và 4 lần sinh, Hoàng hậu của vua Sagiahan tên là Argiuman Bano Begum qua đời ở tuổi 38. Sự thương tiếc người đàn bà chết còn trẻ đã thỏi thúc vua Sagiahan xây lên một công trình tưởng niệm đẹp vô song: Lăng Tagiơ Mahan – tiếng Ba Tư có nghĩa là Vương miện của người Môgol. Khởi công xây dựng năm 1632 theo thiết kế của nhà kiến trúc Han Effendi người Ấn Độ*, công trình đã huy động tới 24 ngàn người làm trong 24 năm.
Tại hạ lưu sông Yamura, cách Đêli 200km về phía Đông Nam, trên khu đất hình chữ nhật (580m X 290m) có tường rào, sân trước, cổng và hồ nước, một tòa nhà bằng đá trắng pha sa thạch đỏ với một vòm hình cầu cao tới 75m lừng lững đứng dưới bầu trời xanh.
Hai bên tòa nhà chính có hai công trình xây bằng đá sa thạch đỏ cùng với bốn tháp tròn cao 40m ở bốn góc làm tăng sự hùng vĩ và vai trò chủ đạo của mái vòm chính. Mái vòm chính có đường kính 17,7m cao tới 61 m, còn mặt bằng có dạng hình vuông 56,7m X 56,7m, bốn góc vát chéo, cửa cuốn lớn theo
Có sách dẫn tên 3 kiến trúc sư tác giả Lăng này là Ustad (người Ba Tư), Gieromin (người Italia) và Ôxtri đơ Boocđô (người Pháp). 
môtíp người Tuốc có tỷ lệ đẹp, có bóng đổ sâu tạo nên một phong thái dung dị mà trang nghiêm. Nội thất dùng nhiều đường diềm chạm khắc bằng 12 loại đá quý ghép thành những hoa văn màu sặc sỡ rất đặc trưng cho phong cách Ấn.
Ngay chính giữa gian phòng rộng tầng hai có đặt hai quan tài giả của Vua và Hoàng hậu bằng đá cẩm thạch màu hồng nhạt có khắc đầy chữ Ảrập lấy từ kinh Koran. Hai quan tài đựng xác chết được đặt ở tầng dưới .
Dưới bầu trời trong đầy ánh nắng, trên thảm cỏ xanh và những tia nước phun ánh bạc, ngời lên trong màu đá trắng hồng, Tagiơ Mahan quả là một viên ngọc quý Ấn Độ đã chiếm được vị trí xứng đáng trong kho tàng các giá trị văn hóa của nhân loại.
Có thể coi các công trình tôn giáo là tiếng nói chủ đạo của kiến trúc cổ Ấn Độ. Tiếng nói ấy không đổng nhất mà đa dạng, phản ánh đúng màu sắc của các tôn giáo. Nếu kiến trúc cổ Ai Cập là những công trình có kích thước khổng lổ, kiến trúc Lưỡng Hà là những công trình đầy màu sắc bằng gạch và gốm thì trong kiến trúc cổ Ấn Độ ta thấy một sự hòa quyện giữa Không gian kiến trúc và điêu khắc. Những nghệ nhân Ấn Độ đã trang trí công trình của mình với các tác phẩm điêu khắc phong phú và nhiều màu vẻ theo các truyền thuyết mô tả trong các cuốn kinh cổ. Sự phong phú về chi tiết trên quy mô hoầnh tráng đã tạo nên tiếng nói riêng cho các công 
trình tôn giáo của đạo Hindu. Không gian càng vào sâu càng cao và ánh sáng càng vào sâu càng giảm đã tạo nên sự huyền bí của ngôi đền. Ngược lại với kiến trúc Hindu, kiến trúc các công trình đạo Hồi lại kết nối một cách thoáng mở, tạo nên sự phong phú hấp dẫn trong chuyển biến không gian. Bên cạnh đó, những công trình đạo Phật vẫn có những nét riêng. Công trình toát lên vẻ thanh tịnh của “Phật giáo, có tính hình tượng cao. Các nghệ nhân vẫn sử dụng điêu khắc để trang trí cho công trình nhưng ở mức độ biết kiềm chế .
Tóm lại, kiến trúc Ấn Độ là một sự phản ánh trung thực, phong phú, đa dạng một nền văn hóa lâu đời với những cơ sở triết lý riêng mang màu sắc Ấn Độ không thể trộn lẫn. Màu sắc ấy rất khó phân tích mà có lẽ chỉ có thể cảm nhận được mà thôi.

Related posts