Kiến trúc Campuchia

Một đất nước có diện tích nhỏ nhưng đã gây được sự chú ý lớn về nghệ thuật điêu khắc và kiến trúc. Đó là nước Campuchia với các khu đền Ăngco kỳ vĩ. Chữ “Ăngco” là do người Pháp phát âm chệch của từ Nagara, tiếng Phạn có nghĩa là kinh đô. Thời kỳ huy hoàng của kinh đô Khơme bắt đầu từ đời vua Giaiavacman II năm 802, và kéo dài đến tận năm 1431. Tại đây đã hình thành và phát triển những loại đền đài độc đáo của dân tộc Khơme, nổi bật hơn cả là hai công trình Ăngco Thom và Ăngco Vat. 

Kiến trúc Campuchia 1

Ăngco Vat có nghĩa là Thành phố – Chùa. Vì người cha nuôi là một vị thần nên đền phải được xây giống như các tòa lâu đài của thần trên thượng giới. Trên thực tế, Ăngco Vat chính là một khu đền mộ thờ Thần – Vua của các triều vua chúa Khơme. Khi còn sống, Vua cho xây đền để thờ thần. Khi chết đi, hồn vua nhập vào đền và cũng trở thành thẩn để được thờ luôn tại đó. Từ quan điểm này đã ra đời một loại hình kiến trúc thờ Thần – Vua gọi là Đền Núi. Ban đầu đó chỉ là một hoặc vài ngôi đền đứng trên đỉnh đồi.
Nằm về phía Đông Nam thành Yasodhara -pura, Ăngco Vat tọa lạc trên một khuôn viên có hình gần vuông 1.500m X 1.300m, xung quanh có hào rộng và khá sâu, phải dùng nhiều bậc thang mới xuống được tới mặt nước. Khác với lệ thường quay cổng hướng Đông, cổng chính của đền Ăngco Vat quay hướng Tây – về hướng đô thành. Một con đường dài tới 350m, rộng 9,5m nối từ cổng tới chân đền, hai bên có hai hàng lan can đá chạm hình rắn.
Trên mặt các bức tượng phía Tây cao đến 2m, dài hàng trăm mét có 8 bức phù điêu mô tả cảnh vua thiết triều, Vua xung trận, các tướng lĩnh cưỡi voi, có lọng che, những toán quân lính mặt đầy sát khí, và cả các cảnh sinh hoạt hội hè sôi động của dân chúng.
Mặt tướng hành lang phía Đông có mảng phù điêu dài tới 50m mô tả cảnh khuấy động biển sữa lấy thuốc trường sinh. Tượng nổi đắp hình nhà vua Vishnu nằm trên mình rùa ở chính giữa, hai bên là đàn quỉ thần đang ra sức kéo con rắn Vasuka khổng lồ. Từ biển sữa bi khuấy động bay lên các tiên nữ Apsara cùng nữ thần sắc đẹp Lăcsơmi, vợ của Vishnu, ở khu đền này có tới 2000 nàng Apsara bằng đá kiều diễm tay đang cầm hoa hoặc đang múa, nét mặt rạng rỡ với trang phục nhiều màu vẻ, đúng là cảnh một thiên cung nơi hạ giới.
Về mặt tạo khối Ãngco Vat là một Kim tự tháp ba tầng với một tháp lớn ở chính giữa cao 42m và bốn tháp nhỏ hơn ở bốn góc. Vây quanh tháp trung tâm là hai lớp hành lang có cột và mái che, tạo thành hai vòng sân, ngoài thấp trong cao..
Việc xử lý không gian và tỷ lệ trên mặt đứng cũng như mặt bằng một cách chuẩn mực đã tạo nên giá trị nghệ thuật của ngôi đền Ăngco Vat. Luật phối cảnh được thể hiện ở trình độ cao: đoạn khoảng cách từ cổng tới đền dài gấp đôi chiều ngang khu đền là theo đúng cách của người Hy Lạp cổ đại (đứng xa hai lần kích cỡ một vật thể để quan sát nó được tốt nhất). Tỷ lệ phân theo chiếu cao là 6m (tầng 1), lên hết tầng hatlà 6 + 7 = 13m và lên hết tầng ba là 6 X 7 = 42m. Các tầng đều có dáng dấp và cấu trúc giống nhau. Nhìn từ xa, tầng trên như được chống trực tiếp lên tầng dưới, vừa tách riêng, vừa hòa quyện, biến đổi uyển chuyển khôn lường. Những cách thức cao siêu ở đây đã khiến một số học giả cho rằng chắc hẳn phải có bàn tay của những bậc thày của xứ sở củà Kim tự tháp. .
Ăngco Thom
Từ cửa đền Ăngco Vat đi về hướng Bắc 1700m thì gặp bức tường thành Ăngco Thom, kinh đô mới được khởi -công sau Ăngco Vat gần 60 năm, sau khi vua Giaiavacman VII đã dẹp xong được Đội quân xâm lược Chàm (1181). Kinh đô mới này có diện tích 16km2, 
gấp bốn lần Ăngco Vat, được đánh giá là thơ mộng và lãng mạn nhất trong thế giới cổ đại phương Đông. Bao quanh bức tường thành hình vuông cao 8m xây bằng đá ong là một hào nước sâu có tổng chiều dài 4km, rộng 100m. Mỗi góc thành có một ngọn tháp gọi là Prasat Chrung, bên trong có bia đá ghi lại công cuộc xây dựng kinh thành (hình 318).
Ăngco Thom có năm cửa ra vào, bốn cửa nằm ở bốn trục và một cửa phụ phía Đông. Mỗi cửa là một cổng thành.. Trong thành còn có chỗ ở của Vua nằm chếch về phía bắc và khá nhiều đền miếu nhỏ khác.
Các công trình ban đầu của Ăngco Thom có phỏng theo phong cách của Ăngco Vat. Nhưng rồi hai phong cách nghệ thuật mới đã ra đời – đó là các tháp mặt người và các lan can đá tạc chủ đề “khuấy biển sữa tìm thuốc trường sinh” được nâng lên tầm cỡ hoành tráng khổng lổ. Những bức phù điêu tạc hình ảnh các thần đang gắng sức ngả về phía sau, những thần rắn cong mình vút lên trời để chống lại, khắc họa lại cảnh khuấy biển sữa. Những phù điêu này được xếp vào loại sáng tác tạo hình kỳ lạ bậc nhất trên thế giới.
Nói vể Ãngco Thom không thể không nói đến đền Bayon. Đền Bayon là trung tâm của cả quần thể, là sự kỳ vọng lớn nhất và kết quả rực rỡ nhất, độc đáo nhất của nhà vua Giayavarman VII. Đền bao gồm một vành ngoài cùng có hình gần vuông (160m X 140m). Phía bên trong là một hình vuông nhỏ hơn (80m X 57m). Các dãy hành lang song song và vuông góc đan cài giữa 54 ngọn tháp nhỏ cao tới 10m. trông xa như một rừng đá. Ở trung tâm là một đế tròn đường kính 25m, phía trên dựng tòa tháp chính cao 23m. Tổng chiều cao công trình đền Bayon là 43m. Trên mỗi mặt của tháp đểu có tạc hình mặt người với tổng số 43 đầu và 172 khuôn mặt (cứ mỗi đầu có bốn mặt người quay về bốn hướng). Tương truyền để tỏ khả năng màu nhiệm của mình, đức Phật đã hóa thân thành hàng ngàn khuôn mặt cồ nụ cười huyền bí có thể hiểu là nụ cười bình yên lấp lánh hào quang của Đức Phật hay nụ cười mãn nguyện của nhà vua trước một thời thịnh trị.
Giống như trong Ăngco Vat, các mặt tường ở Bayon được trang trí dày đác bằng phù điêu, mô tả từ cảnh sinh hoạt đời thường như chọi gà, rước lễ, chèo thuyền, hái quả, cảnh chiến trận, bắn cung, cưỡi voi đến các sinh hoạt của triều đình
Không chỉ có phù điêu, Bayon còn nổi tiếng bởi rất nhiều tượng tròn tạc hình vua quan, Đức Phật và các Bồ tát. Các tượng này đã góp phẩn cùng hàng ngàn mét vuông phù điêu làm nên phong cách nghệ thuật Bayon tuyệt vời và độc đáo. Không chỉ dừng lại ở chất liệu đá, nhiều chi tiết kiến trúc và điêu khắc đã được khảm thếp hoặc dát mạ bằng vàng bạc và đá quý. Đất nước đã chi tốn tới năm tấn vàng, năm tấn bạc và bốn mươi nghìn viên đá quý cho việc này. Và đã phải huy động tới 1000 nhà điêu khắc giỏi làm việc cần mẫn trong suốt 20 năm trời.

Related posts