Kiến trúc Nhật Bản từ sau thê kỷ thứ XVI

Từ thế kỷ thứ XIV, nước Nhật đã bị phân quyền cát cứ, có lúc tới 270 vùng. Mỗi lãnh chúa hùng cứ một phương. Khắp nơi đều có lâu đài kết hợp với pháo đài phòng thủ. Mỗi lâu đài là biểu tượng tham vọng quyền lực của một lãnh chúa. Thông thường, đó là những tòa tháp khổng lồ ngự tọa trên đỉnh đồi cao, bốn góc có kèm bốn tháp. Lâu đài cổ thường được làm bằng gỗ cao tới 7 tầng, mái lợp ngói, xung quanh có vườn hoa, non bộ. Phía chân có ba vòng tường đá dựng đứng che khuất đường iên, và một hào nước bao quanh. Kỹ thuật xây đá là nét độc đáo rất Nhật Bản: đá gắn với nhau chỉ bằng những hốc và gờ được tính toán sẵn mà không dùng vữa dính cứng để có thể xê dịch mỗi khi có động đất.
Lâu đài Himêji (lâu đài Bạch Hạc) là một điển hình được bảo tồn khá đồng bộ, được xây dựng theo thiết kế của kiến trúc sư Ideda Terumasa trong khoảng thời gian từ 1580 đến 1615. Đây cũng là một pháo đài dạng mê cung rất phổ biến ở Nhật Bản trong thế kỷ thứ’ XVI (hình 301). Lâu đài Himệịi có 83 toà nhà với một hệ thống phòng thủ kiên cố, bao gồm các cửa vào thành, vọng gác ở ba phía Tây, Tây Bắc, Đông, nối với nhau bằng hệ thống nhà cầu với 4 vòng thành bao bọc. Đế thành là những bức tường đá xây hơi võng lòng chảo vào phía trong (concave walls). Tất cả các hạng mục nhà cửa được biến hóa, nhập vào thế đất một cách hài hòa.
Toà lâu đài chính có 6 tầng trên mặt đất và một tầng hầm, cao 50m so với mặt đường vào. Tường màu trắng, có những chi tiết cửa điểm con sơn đỡ mái thanh tú. Mai đua hơi cong lợp gạch men màu ghi. Mặt mái lớn có xen những mái tam giác nhỏ hoặc vòng cung. Giải pháp kết cấu dùng bốn cột cái xuyên suốt 5 tầng, còn những cột xung quanh ngắt ra hai tầng một. Kết cấu phần trên và phần hầm hoàn toàn tách biệt nhau. Rất có thể điều này xuất phát từ mục tiêu chống động đất.

Kiến trúc Nhật Bản từ sau thê kỷ thứ XVI 1

Đặc điểm nhà ở dân gian sau thế kỷ thứ XIV
Tại vùng Ise vào thế kỷ thứ XIV, nhà ở dân gian lấy đơn vị diện tích là binh (1 binh = 3,3m2). Nhà ở phổ biến là 5 binh, cao nhất là 35 binh, về sau, nhà ở chủ yếu có diện tích 20 binh, trong đó bao gồm chỗ ở được tôn cao và nơi sản xuất, kho, bếp, chuồng trại đặt thấp hơn. Tất cả cùng nằm dưới một mái nhà, hoặc hai mái kề nhau, một chính, một phụ. Bố cục mặt bằng mạch lạc, kết cấu đơn giản. Không gian liên hoàn thông nhau bằng vách nhẹ cửa đẩy và song gỗ. Cột nhà bằng gỗ được đẽo vuông, còn các xà thì được để tự nhiên không đẽo gọt trang trí như ở các công trình tín ngưỡng. Mái lợp bằng rạ dày từ 0,6m đến 1m. Đồ đạc trong phòng hầu như không lộ rõ. Tối trải thảm ra sàn để nằm ngủ, ngày lại cất vào các tủ tường. Nhờ vậy phòng ở luôn gây được cảm giác sạch sẽ, thoáng đãng.
Tựu chung lại, nghệ thuật kiến trúc Nhật Bản đã in đậm sắc thái nhẹ nhàng uyển chuyển của một vùng luôn có động đất, nguời dân có lối sống khiêm nhường, khéo léo, tiết kiệm, hòa trong tự nhiên, được thể hiện trong các giải pháp kết cấu cũng như tổ chức không gian độc đáo, ít thấy ở bất cứ một dân tộc nào khác.
Từ thế kỷ thứ XVII trở đi, ảnh hưởng người Âu vào Nhật ngày càng nhiều, nhưng sự tiếp thu mạnh mẽ văn hóa Tây Âu vẫn được phát triển song song với những đặc điểm cổ truyền của dân tộc Nhật Bản, dẫn đến những bùng nổ kỳ diệu của dân tộc này vào nửa sau của thế kỷ thứ XX.

Related posts