Kiến trúc Phật giáo, stupa và chùa hang

Trông các quốc gia phương Đông, có lẽ không nơi nào lại có nền kiến trúc tôn giáo phong phú, đầy tính huyền bí như Ấn Độ. Những đền đài Hindu giáo, những chùa chiền Phật giáo, những thánh đường Hồi giáo có ở khắp mọi nơi, đứng xen kẽ với vô số đền đài của các giáo phái khác .
Ngay từ thế kỷ thứ XIII trước CN, kiến trúc tôn giáo ở Ấn Độ đã bắt đầu phát triển. Đạo Phật ra đời vào cuối thế kỷ thứ VI trước CN, với loại công trình vừa là tháp thờ, thánh tích,
vừa là lăng mộ, gọi là stupa (hình 256). Những nơi cúng lễ Phật đồng thời là chỗ ở của các nhà tu hành, gọi là chùa.
Về hình thức stupa, có một truyền thuyết kể rằng khi Phật tổ lâm chung, một môn đệ đến hỏi liệu sau này nên xây ngôi mộ của Người như thế nào. Phật không nói, chỉ lặng lẽ cầm tấm áo cà sa gấp làm tư đặt lên đất, úp cái bát khất thực và đặt cây gậy chống lên trên. Có thể điều đó gợi nên hình ảnh các Stupa sau này chăng?

 Kiến trúc Phật giáo, stupa và chùa hang 1

Stupa Sanchi
Vua Asoka là nhà vua cuối cùng thuộc vương triều Morya (321 – 187 trước CN) đã trị vì Ấn Độ trong suốt 49 năm, được mệnh danh là thời hoàng kim. Vua Asoka đã cho dựng tới 84.000 tháp Phật, tập trung nhiều ở vùng Sanchi thuộc Trung Ấn. Tại đây hiện vẫn còn tổn tại tòa bảo tháp stupa Sanchi hùng vĩ được gọi là Sanchi 1 . Mới đầu, tháp được xây bằng gạch, về sau, người ta đã ốp thêm lẩn đá quý ở ngoài thành to rộng gấp đôi. Tổng chiều cao tháp hơn 17m, kể cả bệ cao 4,3m. Đường kính đáy tháp 32m. Tháp được kết thúc bằng một vọng lâu (đài quan sát) hình vuông, được xem là nơi để -xá lị của Phật . Trên tận cùng của nóc có một cây cột gắn ba phiến đá lớn hình đĩa, tạo nên
một chiếc dù nhiều tầng mà người ta coi là biểu tượng của sự tôn nghiêm. Xung quanh tháp bán cầu có hàng rào đá với 120 thanh chống và bốn cổng mở ra bốn hướng Đông, Tây, Nam, Bắc. Mỗi cổng là một biểu tượng của tam thế trong giáo lý nhà Phật: quá khứ, hiện tại, tương lai. Trên cột có nhiều hình chạm khắc với nghệ thuật rất điêu luyện, hình ảnh tinh tế, sống động. Ở đây hội tụ đủ các loại thú vật, thảo mộc, người và thần thánh, các huyền thoại về cuộc đời nhà Phật, bánh xe pháp luân… Các nghệ nhân đã truyền đạt được những cảm xúc tràn trề, sự say đắm với cuộc sống và cái đẹp. Ở trên cổng phía Đông còn có cặp tượng nữ thần khỏa thân “mông dày, bụng thon, bộ ngực nhô ra đồ sộ, điệu bộ phóng túng gợi tình” (theo Will Durand) toát lên vẻ đẹp vừa thánh thiện, vừa trần tục.
Xung quanh stupa Sanchi có cả một quần thể công trình dùng làm chỗ ở cho các vị sư và là trường học Phật giáo.
Chùa hang Agianta
Đến khoảng thế kỷ thứ VI sau CN, Phật giáo không còn nhận được sự ủng hộ của các vương triều như trước nữa. Các nhà sư phải rút vào ở ẩn trong các khu rừng núi hoang vu. Tuy vậy, giai đoạn này cũng có những kiệt tác được liệt vào loại kỳ quan thế giới. Đó là những ngôi chùa được đục vào hang đá một cách hết sức công phu ở Agianta – một thành phố Trung Ấn (nay thuộc Maharastra gần Bombay) và trong một vùng bán kính rộng tới 300 km bao quanh Naxich. Ở Agianta có tới 30 chùa hang, được 
đánh số từ 1 đến 30, hầu hết là sản phẩm của vương triều Phật giáo Gúpta (kéo dài từ đầu thế kỷ thứ III đến giữa thế kỷ thứ VIII). Hai dạng chùa hang chủ yếu là dạng Chaitya – nơi tiến hành các nghi thức tôn giáo và dạng Vihara – tu viện.
Các Chaitya được đục vào vách núi, bắt đầu từ trần trở xuống. Thông thường Chaitya có mặt cắt dọc kéo dài sâu vào trong lòng núi, kết thúc bằng một vòm trần, dưới đó đặt bàn thờ Phật. Mặt cắt ngang thường gồm một phòng rộng ở giữa có vòm rất cao, hai bên có hai hàng cột bằng đá đục liền, có phù điêu, hoa văn trang trí công phu. Sau hàng cột đá là các dãy trai phòng trần thấp dùng làm nơi cư ngụ cho các vị sư. Lớn nhất trong số các Chaitya là Chaitya ở Carli (thế kỷ thứ I trước CN) dài 38,4m; rộng 13,7m; cao 14m. Còn Chaitya số 9 ở Agianta chỉ cao có 7m; rộng 6,4m; dài 14m . Ngoài những Chaitya có lối vào từ đầu hồi, đôi khi còn gặp loại có lối vào từ bên hông. Căn cứ vào số ít hình cổ còn sót lại, người ta cho rằng hình thức các Chaitya bắt nguồn từ những kiểu nhà ở đã tồn tại ở cả vùng Ấn Độ lẫn Hy Lạp từ thời xa xưa.
Nội thất các Chaitya được trang trí bằng những phù điêu hay những bức họa nhiều màu đỏ, xanh, lam… trên nền đá tự nhiên vẽ hình Phật tai to, mình quấn áo cà sa sát người, hở vai, mắt nhìn xuống, bàn tay phải mở ra phía trước; hoặc hình những người mẹ bế con với ánh mắt cầu xin được cứu rỗi. 
Các chùa hang Agianta còn đạt được hiệu quả cao về mặt chiếu sáng, làm cho các hình ảnh lúc thâm nghiêm tư lự, lúc tươi cười dịu dàng, rất sống động. Tuy nhiên, các kho báu này từng bị vùi trong quên lãng suốt hàng ngàn năm, tới tận đầu thế kỷ thứ XIX mới được phát hiện và được trả lại vị trí xứng đáng của mình trong kho tàng văn hóa nhân loại.

Related posts