Kiến trúc Rôman

Tình trạng sản xuất ngày càng sút kém tại hàng loạt các quốc gia phong kiến manh mún ở Tây Âu vào các thế kỷ thứ V đến thứ IX đã khiến kinh tế ngưng trệ và kỹ thuật xây
dựng không còn cơ hội phát triển. Ngoài số ít công trình tôn giáo và thành quách còn được tiếp tục xây dựng, những thành tựu kỹ thuật thời đế quốc La Mã hầu như bị lãng quên. Phải đến thế kỷ thứ X và XI, nền kinh tế phong kiến ở một số nước Tây Âu – Pháp, Đức, Italia – dường như mới sực tỉnh sau một giấc ngủ dài đẩy lo âu.
Khi các cuộc xâm lăng cướp phá chấm dứt, xã hội Tây Âu trở lại yên tĩnh thì cuộc sống có điều kiện ổn định và cải thiện dần. Sự lớn mạnh tương đối mau lẹ của lực lượng sản xuất phong kiến đưa đến sự sôi động của các khu chợ búa, khôi phục các đô thị cũ và xây thêm nhiều đô thị mới. Lúc này dưới tác động của giáo hội, con người chuyển hướng sang cầu xin sự che chở của Chúa. Mọi người dân không phân biệt giai cấp đều là con của Chúa. Nhà thờ trở thành ngôi nhà chung. Nhiều nhà thờ cũ được phục hồi. Các nhà thờ mới lần lượt ra đời ở những vùng đất mới được khai phá. Các hoạt động xây dựng dẩn dần trở lại nhộn nhịp. Các phương thức xây dựng truyền thống từ thời hậu đế quốc La Mã, các kiểu kiến trúc Tiền Thiên chúa giáo và kiến trúc Bidăngtin được khuyến khích áp dụng đã dẫn đến việc hình thành một phong cách kiến trúc mới với tên gọi là kiến trúc Rôman, thể hiện qua các nhà thờ, tu viện và lâu đài phong kiến.
Kiến trúc nhà thờ Roman
Tuy xuất phát từ mô hình baxilica thời La Mã cổ đại, nhưng chức năng sử dụng và cấu tạo của nhà thờ Rôman đã biến đổi khá nhiều. Thay cho các chức năng cũ như làm chợ, tòa án, nơi giao dịch, các baxilica nay chuyển sang chỉ để làm nơi tiến hành các lễ nghi của đạo Thiên chúa: cầu kinh, rửa tội. Từ các mặt bằng chữ nhật tương đối ngắn, ít gian, mặt ngang nhà ba nhịp có một phần cao ở giữa, hai bên thấp hơn theo kiểu baxilica La Mã, các mặt bằng nhà thờ Rôman được kéo ra nhiều gian, chiều dài lớn gấp nhiều lần chiều ngang nhà, với phần sảnh và phần kết được biến hóa phức tạp. Nhà thờ Roman thường kết thúc bằng một không gian ba nhánh rộng rãi, mái lợp bằng bốn vòm (vòm giữa lớn, vòm ba phía nhỏ hơn) theo kiểu các nhà thờ Bidăngtin. Ánh sáng lọt vào trong nhà gián tiếp qua hàng cửa sổ hẹp từ các gian bên hoặc trực tiếp qua dãy cửa sổ gian chính từ trên cao.
Đến cuối thời kỳ Rôman, các cửa sổ được làm có vành tròn, đố bằng đá nổi trên nền kính màu. Mặt nhà thường có những mảng đặc trang trí bằng phù điêu, các hàng cột hiên, cửa cuốn chia theo chiểu ngang  . Do kỹ thuật xây đá có phần hạn chế nên nhà thờ Rôman có chiểu cao vừa phải, thường dưới 20m. Có thể điều này còn do chủ ý của tư tưởng Thiên chúa giáo tạo ấn tượng đè nén con người.

Kiến trúc Rôman 1

Kiến trúc tu viện Rôman
Tu viện là nơi ăn ở, học hành của các nhà tu hành nên thường gắn với cơ cấu nhà thờ. Tòa nhà tu viện là một phần hữu cơ trong bố cục của quấn thể nhà thờ. Trong tu viện có rất nhiều loại nhà, có khi lên tới 37 loại, kể cả bệnh xá, xưởng sản xuất, vườn cây thuốc v.v… Tu viện thường chiếm vị trí tốt trong quy hoạch đô thị hoặc những khu đất gần sông ở các vùng quê (hình 180, 181, 182).
Trong thế kỷ thứ X, tu viện Roman được xây dựng ở rất nhiều vùng khắp châu Âu, nên mang những đặc thù địa phương khá đa dạng. Đặc điểm chung của tu viện Roman là có các sân trong được vây bốn mặt bằng hành lang có hệ vòm – một cột hoặc vòm – hai cột. Các vòm này lúc đầu thường bị làm nặng và thô, càng về sau càng thanh thoát dần. Hành lang được tôn cao nhiều bậc so với sân, còn giữa sân có vòi phun nước hoặc có tượng chúa.
Kiến trúc lâu đài
Nếu tu viện dùng cho thầy tu ở nơi thoáng đãng gần thiên nhiên, thì lâu đài phong kiến là nơi cố thủ của các lãnh chúa. Không giống như các mẫu hình nhà thờ hoặc tu viện, lâu
đài là loại hình kiến trúc trước nay chưa hề có. Sự phát triển của kiến trúc lâu đài được xếp gần như song song với thời kỳ Gôtích, tức là từ thế kỷ thứ XI – XIII, khi phương thức sản xuất phong kiến đã thực sự ổn định ở Tây Âu.
Vị trí xây dựng lâu đài thường được chọn ở nơi hiểm yếu, trên đổi cao, đường vào khó khăn. Khu vực xung quanh lâu đài đều có các bức thành cao, tháp canh và các lỗ châu mai. Dưới chân tường thành có hào nước rộng và sâu. Thường chỉ có một cây cầu duy nhất bắc qua hào, đôi khi nâng hạ được, và một cổng duy nhất tại chỗ đó để vào thành (hình 183).
Tường các lâu đài thường được xây rất dày bằng gạch và đá, có ít khe cửa nhỏ hình lỗ châu mai, nhìn bề ngoài rất nặng nề thô thiển. Phía bên trong lâu đài được chia làm hai hoặc ba tầng. Tầng dưới tối tăm, dùng làm kho và nơi ở của gia nhân. Các tầng trên thường sáng sủa, có bếp nấu, phòng ăn, chỗ ở của chúa đất và gia tộc.
Lâu đài Rôman thường được xây dựng trên các đỉnh đồi, nổi bật giữa một vùng bằng phăng hay giữa những nơi nhiều cây xanh rậm rạp um tùm nên lối kiến trúc này được coi là thứ nghệ thuật thôn dã .
Kiến trúc Rôman ở các nước Tây Âu
Bước vào thiên niên kỷ mới (1000), số lượng nhà thờ Rôman phát triển nhanh và nhiều đến mức một giáo sĩ có tên là Raun Glaber đã phải thốt lên: “Mới có ba năm đầu tiên của thiên niên kỷ mà hầu như trên khắp trái đất, nhất là ở Italia và vùng Galli, nhà thờ được xây sửa biết bao nhiêu mà kể. Thế giới vừa vứt bỏ bộ xiêm áo cũ, liền được phủ ngay bộ áo choàng trắng – các nhà thờ mới”. Mỗi địa phương của châu Âu đều đưa vào bộ áo này phần đóng góp của riêng mình.

Related posts