Kiến trúc Thái Lan

Những quốc gia sống trong khu vực Nam và Đông Nam châu Á tuy có chung nền văn minh lúa nước, có số ảnh hưởng qua lại lẫn nhau, đôi khi còn có chung cội nguồn, nhưng mỗi dân tộc lại có một lịch sử văn hóa riêng biệt và độc đáo. Thái Lan là một quốc gia như vậy.
Di chỉ khảo cổ Ba,.y Chiang thuộc tỉnh Udon Thana (Đông Bắc Thái) cho thấy thời đại đồ đồng đã tồn tại ở đây từ những năm 3600 trưóc CN, là bằng chứng khá sớm của một xã hội nông nghiệp phi đô thị .

Kiến trúc Thái Lan 1

kiến trúc thời kỳ người Môn
Tộc người Môn đã có mặt ở Thái Lan từ hàng vạn năm trước và hình thức tổ chức nhà nước đã có từ cách đây hai ngàn năm.
Người ta đã tìm thấy dấu tích những pho tượng Phật cổ từ thế kỷ thứ VII và những tòa tháp cao trên 50m như tháp Kukut 5 tầng ở Lămpun còn khá nguyên vẹn, có mặt nền hai cấp bằng đá ong vuông mỗi cạnh 34m, trên đó là khối 5 tầng xây gạch, có tượng Phật đặt ở từng tầng quay ra bốn phía. Tháp được kết thúc bằng một chóp nhọn.
Thế kỷ thứ IX, ở vùng Bắc Thái Lan có loại tháp đáy vuông đỉnh thu nhọn phình ra ở giữa. Điển hình là tháp Prathat Panon ở tỉnh Nakhon Panon. Phong cách nghệ thuật thời kỳ này có tên là phong cách Dvaravati.
Trong các thế kỷ từ VII đến XIII, ở nhiều miền khác nhau của Thái Lan đã hình thành những phong cách nghệ thuật khác như:
– Phong cách Lôpburi (thế kỷ thứ VII – XIV) ở miền Trung và Đông Bắc Thái, nơi có nhiều ảnh hưởng kiến trúc Ăngco Vát của Khơme. Nhiều tác phẩm điêu khắc làm từ đá và đồng về chủ đề Phật giáo đại thừa rất đặc trưng cho phong cách này.
– Phong cách Svirijaia (thế kỷ thứ VIII – XIII) là phong cách nghệ thuật vùng Nam Thái Lan có nhiều nét tương đồng với nghệ thuật miền Trung Java của Inđônêxia. Như chùa Pra Barômthat có mặt bằng hình vuông, mái tròn nhiều tầng, đỉnh tháp hình chuông. Đền thờ Vạt Keo ở tình Chaiya có cấu trúc và dáng dấp gần với Tháp Chàm Việt Nam thế kỷ thứ IX – X, nhưng bên trong lại có một phòng chính và ba phòng phụ là kiểu bố cục quen thuộc của tháp Java (Inđônêxia).
Kiến trúc thời kỳ người Thái
Tuy chỉ tồn tại chưa đầy hai thế kỷ – từ năm 1293 đến cuối thê’ kỷ thứ XIV – nhưng Sukhôthai đã từng là một đô thị lớn với ba vòng tường thành và bốn cổng chính. Một mặt hồ rộng nước luôn trong vắt nằm ở chính giữa Hoàng thành, nơi có ngôi chùa tháp Vat Mahathai rất lớn xây theo kiểu Khơme trên nền vuông nhiều bậc. Thân tháp hình bắp ngô, đỉnh là những búp sen to.
Hai phía Bắc – Nam thành phố đều có những ngôi đền lớn thờ Prasat và Prakha Pung – những vị thẩn của sự hưng thịnh. Phía Đông thành có ngọn tháp Chedi Sung và tu viện Vat Sichum. Ở những nơi này hiện còn lưu giữ được nhiều phù điêu và tượng cổ bằng đá, đồng, đất nung… có trình độ nghệ thuật khá tinh xảo. Những pho tượng Phật trong tư thế đang đi, một gót chân nhấc cao tay vươn ra thuyết pháp được các nhà nghiên cứu xếp vào hàng những bức tượng đỉnh cao của nghệ thuật điêu khắc Đông Nam Á. Phong cách nghệ thuật thời kỳ này có tên là phong cách Sukhôthai.
– Phong cách Lana hay Chiêng sẻng (thế kỷ thứ XI – XVIII) ở vùng Chiềng Mai, có nhiều chùa tượng kế thừa nghệ thuật của người Môn và người An. Tiêu biểu là chùa Bảy đỉnh (Vat Chet Yot) xây theo kiểu các đền Ấn Độ. Chùa tháp Chedi Siliêm vuông 5 tầng tương tự tháp Kukut của người Môn ở Lămpun. Ngoài ra còn có chùa Vat Pasak ở Chiêng sẻng cũng thuộc phong cách này.
– Phong cách Ayutthaya – được gọi theo tên cố đô của Vương quốc Aya Thaga nằm ở hạ lưu sông Menam thuộc miền Trung Thái Lan. Trong 400 năm trị vì, 33 đời vua của vương quốc này đã tạo nên những đỉnh cao mới cho nền nghệ thuật chùa tháp. Các kiểu tháp tròn thời Sukhôthai được bổ sung thêm những hàng cột bao quanh ở phía trên của thân tháp. Thời kỳ này cũng xuất hiện những ngôi chùa bằng gỗ đặt trên nền cao với bộ mái cong nhiều lớp, có các cửa sổ đầu nhọn.
Từ cuối thế kỷ thứ XVII, trong nhiều ngôi chùa đã có sử dụng loại ngói tráng men. Tranh tường mô tả các hoạt động của tôn giáo là thể loại mới được phổ biến rộng rãi và vẫn còn được lưu giữ cho đến tận ngày nay trong các ngôi chùa nổi tiếng như chùa Vat Chetupon ở phía Nam Sukhôthai và đền Vat Chettheo ở Sísat Chanalai.
Là một đất nước theo đạo Phật, ở Thái Lan trung bình cứ 3000 dân số có một ngôi chùa. Đặc điểm chung của ngôi chùa Thái thể hiện ở chức năng và bô’ cục tổng thể chùa. Đây vừa là nơi hành lễ, vừa là trung tâm sinh hoạt văn hóa giáo dục của cộng đồng, là trường dạy lễ nghĩa cho trẻ em. Điều này được nhận rõ trong cơ cấu tổng thể, gọi là wat (hay vat).
Wat là một khuôn viên có tường rào, có cổng và nhiều ngôi nhà có các chức năng chính phụ khác nhau. Trong ngôi nhà chính (gọi là Bot) có đặt tượng Phật. Khu tụng niệm gọi là Viharn. Các tòa tháp tròn, đầu nhọn hình chuông hoặc hình chóp nón có nhiều trang trí, thường được dát bằng vàng (gọi là Chedi), là nơi cất giữ thi hài Phật, là bộ phận nổi bật nhất của mỗi ngôi chùa. Ngoài ra, ở đây còn có nhà để kinh Phật (gọi là Mondop), chỗ ở của sư sãi (gọi là Kuti), các dãy nhà chỉ có mái không có tường vây che (gọi là Sala) dùng cho khách nghỉ hoặc tiến hành các sinh hoạt cộng đồng. Đáng chú ý trong các wat là những tháp nhỏ, thường có hình bắp ngô và có đắp hình nhiều loài chim Thần (gọi là Chota) hay hình rắn Naga.
Điều gây được ấn tượng đặc biệt ở kiến trúc các chùa Thái là bộ mái dán những lớp ngói men nhiều mầu và có nhiều gờ chỉ tinh vi.
Cùng với việc sử dụng màu sắc một cách rực rỡ, các bờ mái, góc mái được chạm khắc tối đa đã góp phần tạo nên hình ảnh ngôi chùa vừa phong phú, vừa trang trọng.
Công trình chùa tháp tiêu biểu nhất của Thái Lan có lẽ là chùa Vat Phra Keo (chùa Phật Ngọc) ở gần trung tâm thủ đô Băng Cốc. Cùng với hoàng cung, chùa này nằm giữa một pháo đài kiên cố (đến nay pháo đài này không còn nguyên vẹn). Trong quần thể ngôi chùa này có rất nhiều tháp được lợp ngói màu, có đường nét duyên dáng, có tòa tháp 
chính được dát vàng. Ngôi nhà bot (trung tâm chùa) có mặt bằng hình chữ nhật, có các hàng cột chạy dọc nhà để đỡ bộ mái hiên 3 lớp. Diềm mái ở hai đầu hồi được chạm khắc hình rắn Naga với các đầu rồng đang uốn lượn. Với độ cong được trang trí kỳ công bằng nhiều hình hoa lá, chim muông, hình Phật ngồi thiền trên tòa sen, được ghép từ các mảng kính – sứ nhiều màu, bộ mái chùa trông như những tấm thảm long lanh rực rỡ đang nhẹ nhàng bay lượn trên bấu trời.

Related posts