Kiến trúc thời ký Cộng hoà La Mã (từ thế kỷ thứ V trước CN đến năm 30 sau CN)

Được thành lập sau khi thoát khỏi các triều vua Etơruyxcơ vào năm 509 trước CN, nền Cộng hoà La Mã đã tồn tại trong khoảng 540 năm, cho đến khi xuất hiện Đế quốc La Mã. Đó là một giai đoạn chiến tranh với ngoài liên tiếp, mâu thuẫn bên trong triền miên. Song đây cũng lại chính là thời kỳ ra đời của nền kiến trúc La Mã khác với giai đoạn kiến trúc Ểtơruria trước đó. Đặc điểm nổi bật của nền kiến trúc này là sự chọn lựa tiếp thu cải biên và nhấn mạnh các kiểu mẫu, các phương pháp bố cục tiên tiến của các dân tộc khác, trước tiên là hai dân tộc Hy Lạp và Etơruria.
Sự phát triển các giải pháp kết cấu táo bạo, sự hoàn thiện một cách mau lẹ các kỹ thuật xây dựng, các kỹ xảo công nghệ, cùng với tài lợi dụng tối đa địa hình, phong cảnh hướng gió và mặt trời, khí hậu, nguồn nước v.v… là đặc điểm nổi bật trong kiến trúc thời kỳ này.
Đá là vật liệu xây dựng chính với rất nhiều chủng loại màu sắc. Đá vôi, đá thô, đá cẩm thạch, hoa cương xám, vàng, nâu dùng xây đền đài. Gạch không nung, rồi về sau có thêm các loại gạch nung dùng để xây nhà ở. Có cả loại gạch hình năm cánh hoặc gạch tròn dùng để xây cột.
Nếu trong đô thị Hy Lạp cổ đại đã từng hình thành các quảng trường trung tâm gọi là agora, thì trong đô thị cổ La Mã đã ra đời
hàng loạt các trung tâm kiểu mới gọi là phorum. So với agora Hy Lạp, phorum La Mã có quy mô lớn hơn nhiều và nội dung, thành phần cõng trình cũng phong phú hơn nhiều. Quy hoạch đố thị theo dạng bàn cờ.
Trong giai đoạn đầu của nền cộng hòa (từ thế kỷ thứ IV đến thế kỷ thứ II trước CN) đáng chú ý là sự phát triển phorum của 2 thành phố Pompei và Roma.
Ban đầu Rôma vốn chỉ là một ngôi làng nhỏ với các lều hình chữ nhật, khung bằng gỗ, vách lau sậy trát đất, kích thước khoảng 3m – 5m mỗi chiều. Đến thế kỷ thứ VII mới có bức tường thành đá ong dài 7km. Bốn thế kỷ tiếp theo, ở đây mới hình thành các đường phố hẹp và gãy khúc một cách tự phát. Dần dần trong cuộc chinh phạt, quân La Mã đâ lập nên các lều trại có hình chữ nhật đặt cách đều nhau, về sau lều trại được thay bằng các thị tứ xây gạch kiên cố dùng vào muc đích quân quản và công trình công cộng.
Phorum Roma ra đời từ thế kỷ thứ VI trước CN tại một nơi gần sông Tibơrơ và hồ Exulap. Lúc đầu đây chỉ là nơi họp chợ và tụ hội dân chúng. Lâu dẩn có thêm Hoàng cung, nhà Hội đồng, Quảng trường, các đền đài, các baxilica v.v… các khu vực buôn bán bị chuyển dần ra vành ngoài. Mặc dù được tôn nền và sửa chữa vào thế kỷ thứ I trước CN, phorum Rôma vận ngày càng trở nên chật chội. Vì vậy vào thời Xêda, để khẳng định uy quyển của mình nhà độc tài này đã cho cất phorum mới. Phorum này khác hẳn các hơi tụ họp công cộng trước đó. Ở đây không hề có các baxilica (nơi hội họp của dân chúng), còn các dân buôn bán thì bị dẹp sâu vào phía trong và sang một bên. Trung tâm bố cục của phorum là ngôi đền thờ thánh mẫu Venera và bức tượng bằng đồng tạc hình Xêda đang cưỡi trên mình ngựa. Hai hàng cột hiên hai bên khép quẩn thể lại trong một diện tích 42m X 125m, tách khỏi thiên nhiên bên ngoài. Nhìn bề ngoài, kiến trúc phorum Xêda có phần thô nặng mang tính phòng thủ.

 Kiến trúc thời ký Cộng hoà La Mã (từ thế kỷ thứ V trước CN đến năm 30 sau CN) 1

Thành phố Pompei
Nằm ở ven biển phía Tây núi Italia, Pompei là trung tâm của một vùng trù phú, có 
nhiều nhà vườn sang trọng, nhiều loại công trình công cộng nổi tiếng như đền đài, nhà hát, nhà tắm công cộng. Phorum Pompei được đặt ở phía Tây Nam thành phố, bề ngang hẹp (38m), chạy trên chiều dài 142m theo hướng Bắc – Nam. Hàng hiên bao 3 mặt, cao 2 tấng, với cột thức Đôri ở tầng dưới, thức loni ở tầng trên, được khép lại ỏ mặt hướng Bắc bằrg ngôi đền thờ Juypite. Nhiều đền đài, công trình công cộng quan trọng lần lượt được xảy quanh phorum này, tạo nên một tổng thể hài hoà với khung cảnh xung quanh.
Đển thờ và Thánh đường
Thời Cộng hòa đền thờ được xây dựng ở hầu khắp các đô thị. Các đến thờ trở thành loại hình công cộng chính thống của La Mã trong khoảng 4 thế kỷ từ thứ V đến thứ I trước CN. Đền Capitol ở Rôma thờ ba vị thần là một tòa nhà lớn (56,85m X 61,6m) đặt trên đồi cao ngự trị cả một vùng thành phố.
Ngoài các ngôi đền độc lập, thời gian này còn có thêm những quần thể thờ cúng là các thánh đường, được xây dựng trên các sườn núi, tại những địa danh linh thiêng. Ở những thánh đường này, toà nhà ctiính là ngôi đền thường được làm bên cạnh một nhà hát đặt ở dưới thấp dùng làm nơi tiến hành các lễ hội tôn giáo.
Thánh đường lona ở Gabi hình thành vào khoảng đầu thế kỷ thứ II trước CN trên một ngọn đồi cao. Một nhà hát ngoài trời hình vòng cung được đặt dưới chân đồi. Nhà hát’ này cùng với dãy hành lang ba mặt phía sau dùng cột thức Đôri tạo thành một quần thể hoàn chỉnh. Chính giữa toà thánh là ngôi đền dài 23,9m; rộng 17,8m. Cách bố cục cân xứng tuyệt đối qua trục dọc của tổng thể này là điểm khác hẳn so với các công trình tôn giáo Hy Lạp trước đây. Toà thánh có tầm bao quát tốt và khá ăn nhập với cảnh quan xung quanh.
Tiếp tục phát triển và mở rộng hơn mô hình thánh đường đối xứng là toà thánh Photuna ở Perenesti, được xây dựng vào thế kỷ thứ l trước CN (hình 127). Xuất phát từ một ngôi đền nhỏ bên sườn đồi có dốc dựng đứng, người Gabi đã xây lên toà thánh lớn phía trên, giật làm tám cấp. cấp thứ tám kết thúc ở trên cao bằng một ngôi đền nhỏ hình tròn, là điểm chốt cuối cùng trên trục đối xứng. Quần thể này hướng ra biển và được mở rộng dần từ những bức tường vòm nặng nề dưới thấp, qua các hiên cột ở các cấp trung gian để tới ngôi đền tròn, được phụ hoạ bằng các bậc lên. Đây là một thành tựu kiến trúc đền đài chưa từng thấy ở thời vương triều La Mã trước đó.
Khu toà thánh lớn cuối cùng thời kỳ Cộng hoà là Thánh đường Gơrơculê ở Tibua, cũng được bố cục theo cách đối xứng tuyệt đối. Do đất quá chật nên phải đẩy cánh trái của chùa 
ra sát triền dốc nhờ một bức tường chắn đất hai tầng ở phía giáp bờ sông. Phía trước thánh đường, lợi dụng độ dốc của núi đá có một nhà hát quay mặt ra biển. Nhà hát này cùng với những hàng bậc đá đã tạo nên một khung cảnh vừa trữ tình, vừa tự nhiên.
Bê tông xuất hiện
Trong thời kỳ Cộng hòa ngoài vật liệu có sẩn là đất nung, kỹ thuật xây dựng La Mã được đánh dấu bằrìg sự ra đời của một loại vật liệu mới – đó là bê tông.
Bê tông với nguyên liệu chính là đá vôi, đã giúp cho kiến trúc La Mã cổ đại đạt được một số thành tựu. Nhà kho Emilep là một trong những công trình đầu tiên có tường và vòm đươc đổ bằng bê tông. Toà nhà này nằm dọc sông, dài tới 500m, có 400 cột. Vật liệu bêtông làm cho thao tác xây dựng trở nên dễ dàng, không đòi hỏi thợ bậc cao như xây đá. 
Vì vậy lính tráng, nô lệ, dân tỉnh lẻ đểu có thể làm dưới sự chỉ bảo của một vài thợ cả. Nó giúp cho nhiều khối lượng xây dựng lớn được hoàn thành một cách nhanh chóng.
Nhà ở
Nhà ở thời kỳ Cộng hòa được chia ra thành hai loại chính: nhà trong phố và nhà biệt thự ở vùng thôn quê.
Nhà trong phố của tiểu thương hay thợ thủ công nghèo chỉ có vài ba phòng, có phần quay ra phố để làm hàng. Phần dành cho việc ăn ngủ được đưa sâu vào bên trong, trên tầng hai hoặc trên gác xép.
Những nhà khá giả, điền chủ chiếm những khoảng đất rộng, nhiều khi bằng cả một ô phố để xây các ngôi nhà có sân tiong. Các phòng ở đều xoay quanh sân này.
Xã hội La Mã vốn là một xã hội điền chủ, nhà giàu sống bằng thu tô. Tầng lớp quý tộc cũng giầu lên từ nông nghiệp. Việc điều hành, chế biến và chứa nông phẩm được diễn ra ở những nơi gọi là biệt thự (villas). Mọi người đều rất coi trọng nơi này, xem như gốc rễ của mọi thành đạt. Từ những cơ cấu đơn giản ban đầu, qua một vài thế kỷ, biệt thự nông thôn đã phát triển thành những toà nhà đồ sộ, nhiều sân, hiên, nhiều buồng phòng, đường đi lại, hồ nước, toạ lạc giữa thiên nhiên đầy cây cảnh, tạo nên môi trường thực sự trong lành cho những người cư ngụ tại đó.
Gắn kiến trúc với cảnh đẹp tự nhiên là cách làm truyền thống của người La Mã. Phong cảnh thiên nhiên nhờ có công trình tô điểm càng trở nên hấp dẫn. Những trang trí khép kín trong bốn bức tường nội thất trước đây nay được mở rộng ra bên ngoài, hòa vào không gian rộng lớn.
Vào cuối thời Cộng hoà, các biệt thự được xây dựng xa hoa chưa từng thấy. Điển hình là biệt thự Papirus (còn gọi là biệt thự Piđôno) trên sườn dốc chạy suốt chiều dài gần 200m từ chân núi ra tới biển.
Sau 5 thế kỷ, nền Cộng hoà đã tạo nên được nhiều loại hình nhà công cộng, nhà ở, công trình mộ chí và các công trình kỹ thuật, đã hình thành loạt nguyên lý bô’ cục và ngôn ngữ kiến trúc của riêng mình (hình 136). Đặc biệt sự ra đời của vật liệu bê tông và kết cấu vòm đã mở ra những khả năng biểu hiện mới cho nghệ thuật xây dựng. Thế kỷ cuối cùng trước CN còn đánh dấu sự mở rộng của kiến trúc ra những quy mô lớn hơn và những hình tượng hoành tráng hơn nữa.

Related posts