Kiến trúc thời kỳ Đế quốc La Mã (từ năm 30 đến năm 476 sau CN) – P1

Năm 27 trước CN, ba năm sau khi dep yên cuộc nội chiến đẫm máu, ôguyxtơ lập nên nhà nước Đế quốc La Mã. Và nhà nước nay đã tồn tại trong 5 thế kỷ liền. 
Đế quốc La,Mã rộng lớn được hợp lại từ nhiều dân tộc, nhiều trình độ phát triển khác nhau đã dẩn dẩn xác lập được sự thống nhất. Sau ôguyxtơ, những cuộc tranh giành quyền lực không lúc nào dứt đã lần lượt đưa các nhà độc tài lên ngai: Tibơrơ, Neron, Phlaviep (69 – 97 sau CN), Tơragian (98 – 117) Adrian (117-138) v.v…
Từ cuối thế kỷ thứ hai đến giữa thế kỷ thứ ba, đế quốc La Mã thi hành chế độ quân chủ dựa trên bạo lực. Thế kỷ thứ ba diễn ra nhiều đợt khủng hoảng chính trị xã hội gay gắt giành ngôi vua, khởi nghĩa của đám người bị áp bức, nạn cát cứ, tình cảnh thua trận liên tiếp. Sự hưng thịnh càng về sau càng trở thành những đoạn ngắt quãng ngắn ngủi, trong thế đi xuống rõ rệt. Cho tới thế kỷ thứ V thì nền đế chế La Mã phải chấm dứt.
kiến trúc Đế quốc La Mã đặc trưng bởi chất hoành tráng, tầm không gian rộng lớn để tương xứng với tầm vóc của một đại quốc gia. Những loại nhà ra đời từ thời Cộng hoà như phorum, baxilica, trại lính, tecma, nhà hát, cầu dẫn nước v.v… được phổ biến ra khắp vùng lãnh thổ (hình 137). Sự phù hợp giữa kết cấu với hình dáng kiến trúc, việc áp dụng các cấu kiện trang trí được gia công một cách tuyệt hảo, các giải pháp kỹ thuật hoàn chỉnh, đã rút ngắn tối đa thời gian thi công. Kiến trúc La Mã đã được gắn một cách khéo léo vào mỗi đặc thù địa hình, đổng thời tiếp thu được nét đặc sắc của từng địa phương.
Khoảng giữa thời kỳ Đế quốc La Mã đã ra đời “Mười cuốn sách vể kiến trúc” của một kỹ sư công binh tên là Vitơruvius. Cuốn sách này được coi là công trình lý luận đầu tiên, có giá trị trong kho tàng lý luận của nền kiến trúc La Mã.

Kiến trúc thời kỳ Đế quốc La Mã (từ năm 30 đến năm 476 sau CN) - P1 1

Quy hoạch đô thị
Kế tục lối quy hoạch theo ô cờ của người Hy Lạp và quy hoạch kiểu trại lính thời Cộng hòa, các đô thị thời kỳ Đế quốc La Mã vẫn lấy trung tâm là các phorum.
Giống như quy hoạch trại lính, mỗi đô thị thường có hai đường phố chính theo hướng Bắc – Nam và Đông – Tây rộng từ 9 đến 13m cắt nhau ở trung tâm, nơi ấy thường đặt phorum. Các đường phố phụ rộng khoảng 4,5m, hai bên có hè rộng 1m.
Thành phố Ephesơ có con đường chính dài tới 25km. Thành phố Palmir còn dùng tới 375 cây cột cao 17m trên chiều dài 1135m ở hai bên đường phố chính, trên lưng chừng cột có hành lang chạy ngang để dân chúng có thể leo lên quan sát các hoạt động đang diễn ra trên đường.
Ngoài phần lớn các phố ở trung tâm được quy hoạch theo hình ô cờ còn có một phần phố xá ở ngoại vi được xếp đặt một cách tự do, như trường hợp thành phố Timgát (hình 138).
Quy hoạch đô thị thời kỳ này cũng bộc lộ mâu thuẫn bên trong của xã hội chiếm hữu nô lệ. Nằm ở khu trung tâm là các loại đền đài cung điện nguy nga, biệt thự sang trọng, nhà hát, nhà tắm đồ sộ, còn những khu nhà tăm tối, chật chội, nhũng túp lều ổ chuột xiêu vẹo của đám thợ thủ công, dân nghèo và đông đảo người nô lệ nằm ở bên dìa đô thị.
Đấu trường Côlidê
Côlidê là một kiểu sân vận động, nơi diễn ra các cuộc vật lộn đẫm máu của súc vật, các trận tỉ thí giưã những người nô lệ với nhau hoặc với súc vật để mua vui cho giới thượng lưu và thị dân. Côlidê được khởi xây vào năm 75 với thiết kế 4 tầng, nhưng khánh thành dưới triều vua Tila vào năm 80 chỉ có 3 tầng, tầng 4 được tiếp tục xây về sau. Đây là đấu trưởng lớn nhất, có cấu trúc hoàn thiện nhất của Đế quốc La Mã.
Đấu trường (85m X 53m) ban đầu chỉ là một bể nước để đua thuyền, nhưng về sau đã biến thành nơi trình diễn các cuộc thi bạo lực – những trận đấu sinh tử của người và dã thú. Vì vậy, để đảm bảo an toàn, đấu trường phải đặt thấp hơn đến 5m so với hàng ghế ngồi đầu tiên. Có tất cả 86 cửa cho dân chúng.
Phần kết cấu của Côlidê đã được tthực hiện một cách hết sức khoa học.
Tuy nhiên, đấu trường này đã một lần phải dựng lại sau trận hoả hoạn vào thế ký thứ ba. Đến thế kỷ thứ XVIII, một trận động đất đã làm sụp đổ hơn nửa công trình này.
Mặc dù vậy, cho đến nay, đấu trường Côlidê vẫn được xem là một trong những kiệt tác kiến trúc của nhân loại.
Phorum Tơragian
Thời kỳ Đế quốc La Mã có khá nhiều phorum danh tiếng được xây dựng liền nhau tại trung tâm Rôma: phorum ôguyxtơ, phorum Hoà Bình, phorum Neva, phorum Tơragian, tạo nên một quần thể hết sức phong phú và sống động. Xây sau cùng, nổi bật nhất về quy mô và giá trị nghệ thuật là phorum Toragian dài 200m được hoàn thành vào năm 113.
Bố cục quần thể theo cách đối xứng nghiêm ngặt qua trục. Thoạt đầu phorum chỉ gồm có quảng trường, Khải hoàn môn Tơragian và một 
baxilica^ đứng chắn suốt chiều ngang ở phía sâu. ở đoạn trong cùng,quảng trường được mở ra khá rộng theo hình vòng cung về hai phía, vá Apollodor đã cho đặt bức tượng Tổragian cưỡi ngựa tại đây.
Quần thể được khép lại bằng cột khải hoàn Tơragian cao 40m. Mặt ngoài cột có 23 vòng phù điêu với chiều cao vòng tăng dần từ 0,89m lên tới 1,25m, để có thể nhìn rõ được những hình trên cao. Phía bên trong cột là một thang xoắn ốc có trổ loạt khe cửa để lấy ánh sáng. Cột kết thúc bằng một con đại bàng. Sau khi Tơragian chết, người ta táng hài cốt ông vua này dưới chân cột, và dựng bức tượng ông thay vào chỗ con đại bàng.
Đền Păngtêông
Chiếm vị trí nổi bật nhất trong pho sử đền đài La Mã và thế giới là đền Păngtêông “Ngôi đền của mọi vị thần” được xây dựng vào năm 118 – 128 dưới triều vua Ađriăng . Hình thức và quy mô ngôi đền vượt lên tất cả các đền đài có trước đó. Tòa nhà có khối chính hình.tròn, mái hình bán cầu lợp bằng một loại đá nhẹ. Đường kính mái 43,2m, đúng bằng chiều cao nhà. Độ lớn của bán cầu này vượt lên mọi loại mái vòm
* Baxilica là một kiểu nhà hình chữ nhật kéo dài chia ra một số nhịp theo chiều cắt ngang. Nhịp giữa có cột đỡ, cao hơn hai nhịp hai bên. Thời La Mã cổ đại, người ta dựng các baxilica để làm chợ, toà án, về sau phát triển ra thành nhà thờ, nhà công cộng. 
được làm trước và sau đó gần 20 thế kỷ (tới tận thế kỷ XIX). Tường nhà rất dày (6,3m) với nhiều hốc, vòm ở phần dưới, nhưng khi lẽn cao thì mỏng dần. Từ đáy vòm trở xuống, nhà được chia làm hai tầng. Tầng dưới cao 13m dùng hàng cột thức Coranh. Tầng trên cao 8,7m chỉ dùng các mảng tường nảy trụ làm bằng đá cẩm thạch. Những mảng tường nảy trụ này hợp làm một với 5 hàng ô cờ được khoét lõm trên vòm trần (gọi là kêxon) tạo nên cảm giác nhẹ nhàng, thư thái. Vòm mái được kết thúc bằng một lỗ tròn đường kính 8,92m – một giải pháp chiếu sáng gây được ấn tượng rất mạnh cho con người trong một không gian cao lồng lộng với nhiều màu sắc.
Một điều nữa đã gây được ấn tượng mạnh là khoảng sân trước đền dài tới 120m, có hàng cột và hiên bao quanh. Với đoàn ngứời từ ngoài xa tiến vào, hiên này thoạt tiên che khuất toàn bộ toà nhà đồ sộ phía trong. Chỉ sau khi đi qua hàng cột cổng, ngôi đền vĩ đại mới đột ngột hiện ra trong chói chang ánh nắng.
Với vật liệu bê tông, gạch nung và đá ốp, bằng những tính toán thông minh và chính xác, những kỹ thuật táo bạo, đền Păngtêông xứng đáng là đỉnh cao của tư duy kỹ thuật thời La Mã cổ đại.

Related posts