Kiến trúc thời kỳ Đế quốc La Mã (từ năm 30 đến năm 476 sau CN) – P2

Baxilica
Baxilica là một loại hình công trình khá phổ biến trong cơ cấu các trung tâm đô thị. Baxilica đã trở thành hạt nhân của các phorum, hơn cả các đền đài. Baxilica trong phorum Tơragian như đã nói đến ở trên là một ví dụ. Càng về sau, mặt bằng và cấu tạo baxilica càng được cải tiến. Điển hình là baxilica Côngxtantin ở phorum Rôma (307 – 312). Toà nhà ba nhịp dài tới 80m, rộng khoảng 60m. Riêng nhịp giữa rộng 25m, cao 35m, đỡ ba mái hình vuông dốc 4 phía đặt sát nhau, nặng tới 7000 tấn.
Dưới sức nặng này, lâu dần phẩn cột trung tâm không chịu nổi đã dẫn đến sự sụp đổ công trình vào thời gian sau.
Khải hoàn môn
Khải hoàn môn ra đời từ thời kỳ Cộng hòa, nhưng phát triển mạnh mẽ trong thời kỳ Đế quốc La Mã. Loại công trình này dùng vào nhiều mục đích: tôn vinh Hoàng đế -hay các 
quốc công, có khi để khánh thành một con đường, một toà nhà, một cây cầu, để làm cổng chào, làm đế tượng v.v… Trong mấy thế kỷ đẩu sau CN ở Italia đã có tới trên 350 khải hoàn môn.
Khải hoàn môn ôguyxtơ nằm trên’đường vào thành Rôma (năm 29 trước CN) gồm một cổng chính và hai cổng phụ xếp thành một hàng ngang, bên trên có tượng .Khải hoàn môn Tita xây năm 81 trên một đỉnh dốc có tầm nhìn tốt, án ngữ một cách trang trọng các cuộc hành lễ vào trung tâm Rôma.
Đầu thế kỷ thứ IV, khải hoàn môn Côngxtăngtin được dựng gần đấu trường Côlidê, đã khắc phục được các nhược điểm của các khải hoàn môn Tơragian, Timgát v.v… xây trước đó.
Với ba vòm có tổng chiều cao trên 20m được chia thành ba cấp, với thức cột Coranh và phần kết thúc đầy tính hoành tráng, với những nguyên tắc bố cục đối xứng từ tổng thể đến từng bộ phận, Khải hoàn môn Côngtăngtin đã tạo nên một hình tượng rất sinh động và đặc sắc.
Cầu giao thông và cẩu dân nuức (Akveduc)
Ngay từ thời Cộng hòa, kỹ thuật làm cầu của La Mã đã rất phát triển. Những cuộc nội chiến sau đó đã phá hỏng mất một số lượng khá nhiều các cây cầu này.
Sau chiến tranh, các thành phố lần lượt được khôi phục hoặc mở rộng. Năm 33 trước CN, kĩ sư công binh Agippe đã khôi phục và xây mới được khá nhiều cây cầu.
Lúc này, việc thay thế vật liệu đá đẽo bằng bê tông đã giảm nhẹ đáng kể tiền của và công sức làm cầu. Những cây cầu bắc qua sông Tibơrơ không những có độ bển chắc vĩnh cửu, mà việc trang trí kiến trúc cũng rất thành công. Điển hình là cẩu Phabrixia từ bờ sông bên trái nối sang đảo Esculapa, có hai nhịp dài 24,5m. ở giữa hai nhịp có một vòm cuốn nhỏ làm cho cây cầu trở nên duyên dáng. 
Từ chỗ dẫn nước bằng các ống chôn ngầm giống như của người Hy Lạp, nước được chảy qua các máng đặt ở mặt cầu trên độ cao, chiều dài mương nước có khi tới 50 – 60km. Ở thế kỷ sau (thế kỷ thứ II) có mương còn có chiều dài tới hàng trăm km. cầu dẫn nước qua sông Marxia (xây năm 144 trước CN) cao từ 9 đến 12m, với hàng ngàn vòm cuốn. Trên một chiều dài gần chục km với đôi chỗ chạy gấp khúc, akveduc Marxia đã vẽ nên một cảnh trí ngoạn mục giữa thiên nhiên đầy cây xanh. Những tỷ lệ rất chuẩn xác ở đây làm cho các nhà nghiên cứu tin rằng phải có bàn tay của những người thợ Hy Lạp, thậm chí có cả kiến trúc sư Hy Lạp lấy trong trong đám thợ thuyền tù binh để tham gia vào quá trình xây dựng cây cầu này.
Cây cầu dẫn nước đặc trưng nhất thời La Mã cổ đại là cầu Gard. Đây là một cây cầu ba tầng với nhiều vòm cuốn. Nhịp điệu và tỷ lệ là hai điều được hết sức chú trọng. Trung tâm bố cục là nhịp giữa, giữ vai trò chủ chốt về tạo hình. Tầng thượng với số vòm bị chia nhỏ như một cách kết thúc của bố cục, còn phần lớn tầng dưới cùng bị địa hình che khuất. Các chuyên gia phân tích con số vể tỷ lệ cho thấy cầu Gard quả là một tác phẩm nghệ thuật đích thực, trong đó các nguyên tắc về tỷ lệ được xử lý ở trình độ rất cao (hình 152).
Terma
Từ chỗ chỉ có 170 terma lúc ban đầu, đến cuối thời Đế chế ở Rôma đã có tới gần 1000 tòa . Mười bốn quận của thành phố đều có từ 60 đến 80 terma: Trong số này có nhiều terma hoàng gia cực kỳ lộng lẫy như Tita, Tơragian, Diodechian v.v…
Tiêu biểu nhất trong số này là terma Caracala được xây dựng trong 30 năm, từ năm 206 đến năm 235, trên một quả đồi hình vuông rộng mỗi chiều 450m (hơn 20 hecta). Một tường chắn đất cao 6m ở phía Đông – Bắc làm cho khu đất được san thành bằng phẳng. Phần dưới đó biến thành các phòng phụ nhà kho, bể chứa, nồi hơi…
Dãy buồng tắm đơn (cho một người hoặc một gia đình) được xếp ở ven tường ngoài cùng. Nhà chính dài 214m, rộng 11 Om, cao 35m, bao gồm nhiều phòng lớn với nhiều chức năng khác nhau. Các phỏng đều có lối ra vào độc lập theo một trật tự hợp lý.
Nội thất terma Caracala đặc biệt phong phú, nhờ thức cột Coranh kiều diễm, nhờ các sàn nhà bóng loáng, vòm trần sáng trên cao, các tranh khảm, phù điêu, tượng là những kiệt tác trong kho tàng nghệ thuật Hy Lạp – La Mã. Tất cả hoà trong ánh nước lấp lánh toả ra từ các vòi phun và mặt các bể bơi.
Các phòng trong terma đểu có hệ thống ống dẫn khí sưởi, ống cấp nước dấu trong tường hoặc sàn nhà. Việc sử dụng rộng rãi thứ vật liệu xây dựng bê tông đã giúp tạo nên những vòm bán cầu trên mái có đường kính tới gần 20m.
Tổng thể terma là một bố cục cân xứng tuyệt đối thông qua trục giữa. Các thời sau người ta không còn tìm ở đâu ra loại công trình công cộng có giá trị cao như những terma của thời La Mã cổ đại nữa.

Kiến trúc thời kỳ Đế quốc La Mã (từ năm 30 đến năm 476 sau CN) - P2 1

Nhà ở
Thời kỳ Đế quốc La Mã, bố cục các nhà trung lưu có ít nhiều thay đổi so với nhà ở thời Cộng hoà. Những khu nhà sang trọng bị đơn giản hoá hoặc mất hẳn. Các vườn lớn không còn là vườn thuần khiết mà đã bị các phòng ở vây quanh. Lúc này, đã xuất hiện một số nhà 
nhiều buồng kiểu trại lính, tiền thân của các chung cư sau này.
 Nhà độc tài Phlaviép lên ngôi phá tan “Ngôi nhà Vàng”, rồi tìm chỗ xây cho mình một Hoàng cung còn lớn hơn nhiều.
Tòa nhà này nằm trên một sườn đồi dốc về phía Tây – Nam, bao gồm bốn phần chính, trong đó có một phần lẩn vào sườn đồi. Phần trung tâm là điện Đômixian, rộng gần 1000m2, nơi nhà vua tiếp sứ thần. Trong phòng đặt ngai vua. Hoàng đế xuất hiện trước công chúng trên một lễ đài nằm ở mặt trước Hoàng cung. Các phòng bút phê của Hoàng đế (ở góc phía Bắc), bể bơi, vòi nước, vườn thượng uyển v.v… đã minh chứng cho một cách sống đế vương theo kiểu phương Đông xa rời dân chúng chưa hề thấy ở các đời vua trước.
Cùng thời gian này, các dạng biệt thự có từ thời Cộng hoà được mở rộng và tăng cường phần phục vụ sản xuất.
Đến nửa sau của thời kỳ Đế quốc La mã, quốc gia khủng hoảng và nạn thù trong giặc ngoài đã khiến cho kẻ quân vương phải xây những hoàng cung tường cao hào sâu’ theo kiểu pháo đài, với rất nhiều tháp canh.
Nhận xét chung
Khát vọng đế vương kéo theo sự bành trướng lãnh thổ và giấu lên nhờ chiến tranh, tiềm năng văn hóa của nhiều dân tộc cư trú trên một vùng đất rộng lớn, với biết bao corì người tài giỏi và nhiều nghệ sĩ lớn, sự Ưu ái của tự nhiên với phong cảnh trữ tình và nguồn vật liệu dồi dào là ba yếu tố đã làm nên nền kiến trúc La Mã trong vòng 9 thế kỷ.
Không có những tham vọng độc tài, những cuộc chiến khốc liệt thì khó có đủ của cải và sức lao động nô lệ dồi dào, cũng không có nhiều đến như vậy các đô thị phát triển như Rôma, Timgát, các loại hình kiến trúc đa dạng như lăng tẩm, đền chùa, khải hoàn môn, nhà tắm, chợ, nhà hát, các biệt thự và hoàng cung lộng lẫy (hình 162, 163). Không có nền văn hoá đa dạng và những nhà văn hoá tài ba, những nhà kỹ thuật xuất sắc thì ý muốn của các nhà cầm quyền cũng không thể trở thành những sản phẩm nghệ thuật, trong đó có khá nhiều kiệt tác kiến trúc như Côlidê, Păngtêông, các terma, các akveduc v.v…
Và không có một vùng đất tươi đẹp, vật liệu dồi dào, các loại đá núi có chất lượng cao thì cũng không thể nhanh chóng có được những quấn thể đồng bộ, hoàn hảo, hoà quyện trong cảnh sắc thiên nhiên như người La Mã cổ đại đã làm được. 
Việc phát minh ra bê tông của người La Mã đã tạo nên các vòm cuốn bất hủ. Việc họ phát triển và bổ sung các thức cột và sử dụng kết hợp cột với vòm cuốn, sự nguy nga của công trình kết hợp với tính thực dụng là những bài học lớn mà các nền kiến trúc thời gian sau đặc biệt là các bậc thầy thời Văn hoá Phục hưng hết sức ca ngợi và noi theo.
Kế thừa tinh hoa của nền kiến trúc cổ Hy Lạp, Kiến trúc La Mã cổ đại rất coi trọng việc xử lý tỷ lệ giữa các bộ phận trong công trình và giữa công trình với môi trường. Nền kiến trúc này cũng đã sinh ra nhiều nhà lý thuyết, mà tiêu biểu nhất là Vitơruvius, sống ỏ thế kỷ thứ I sau CN, tác giả “Mười cuốn sách về kiến trúc”.

Related posts