Kiến trúc trong thời kỳ cộng đổng nguyên thủy

Như vậy là từ ba hoặc bốn vạn năm trước, con người đã biết sống quần cư, có tổ chức. Căn cứ vào công cụ lao động của họ và đặc trưng khí hậu của trái đất, giai đoạn phát triển xã hội loài người mà ngày nay ta gọi là cộng đồng nguyên thủy được các nhà khoa học lịch sử chia thành thời ba kỳ: thời kỳ đồ đá cũ, thời kỳ đồ đá mới và thời kỳ đồ đồng – sắt. Thời kỳ đồ đá cũ lại chia ra sơ kỳ (khoảng 2,5 đến 2 vạn năm trước Công nguyên – trước CN), trung kỳ (2 vạn đến 1,5 vạn năm trước CN) và hậu kỳ (1,5 vạn đến 1 vạn năm trước CN).
Để tồn tại được trước thú dữ và thời tiết, con người đã phải tạo ra những loại hình cư trú thích hợp dù còn rất đơn sơ: đào hầm trong lòng đất, khoét hang vào núi đá, ghép cây thành liếp chắn gió, lấy lá cây kết thành mái che mưa. Dần dần họ cải tiến những thứ đó thành lều tròn có mái hình chóp nón hoặc nhà vuông có mái dốc hai bên, dựng ở những nơi bên ngoài núi. Vật liệu làm nhà chủ yếu là đất sét và thân cây, cành cây.
Khoảng một vạn năm trước CN, loài người chuyển sang thời kỳ đổ đá mới (còn gọi là đá mài). 
– Nhà chòi trên cọc, để ngăn các loài cọp, gấu leo lên sàn. Chòi được làm gần nhau thành cụm, ở dìa sông. Loại nhà này có nhiều ở Thụy Sĩ thuộc Trung Âu và ở Mông cổ thuộc châu Á.
– Nhà có nhiều gian cho vài chục người ở. Mái dốc hai chiều, có cửa chiếu sáng trên cao. Những nhà này thường được xếp theo hai dải hình tròn, bán kính dải ngoài tới 70m. Trong mỗi nhà đều có bếp, lò sưởi riêng. Một khu nhà dài tới vài chục mét, có nơi sinh hoạt công cộng, có hàng rào bao quanh để ngăn thú rừng.

Kiến trúc trong thời kỳ cộng đổng nguyên thủy 1

Thời kỳ đồ đổng (3000 năm trước CN), con người đã biết đào đất để trồng cây, chăn nuôi gia súc. Ngoài dạng nhà ở là nhu cầu thiết yếu, người ta bắt đầu nghĩ ra những loại hình xây dựng mới nhằm thỏa mãn các nhu cầu tinh thần, như công trình mai táng và thờ cúng – gọi là Đolmen, công trình tôn giáo – cầu khẩn sức mạnh linh hồn – gọi là Menhia hay Cromlech.
Dolmen là những phiến đá lớn nặng hàng chục tấn ở dạng nguyên thể cao khoảng 2m, dựng thẳng đứng hoặc bắc ngang trên những phiến đứng, tạo thành một dạng hang động, dùng làm nơi mai táng, thờ cúng chúa đất, hoặc cũng có thể để ở hay làm kho chứa thức ăn.
Menhia là những phiến đá dài có khi tới 20m, nặng tới 300 tấn được dựng làm cột độc 
lập. Thân cột thường có chạm khắc hình cây cối, người và vật . Có nhiều khả năng đây là loại công trình để kỷ niệm người chết hay một biểu tượng về tôn giáo. Tại vùng Carnac (Bretanhơ – Pháp) còn giữ được 3000 phiến đá xếp thành hàng dài tới 3km.
Cromlech là loại công trình được tạo bởi những phiến đá lớn dựng theo hình tròn, giữa đặt một phiến lớn nhất dùng làm nơi đặt vật tế lễ. Bằng cách này, người ta đã tạo nên một sản phẩm kiến trúc có sức truyền cảm. Tại stônhengiơ (vùng Satisbơry – Anh) có cả một khu vực di tích của kiến trúc Cromlech, được quây thành những vòng tròn đổng tâm. Đường kính vòng trong cùng 30m, vòng ngoài tới 90m, với năm cổng – tháp đá cao tới 8m ..
Bên cạnh ba loại công trình đặc sắc trên, phải kể đến các loại mộ cổ dùng để chôn cất các nhân vật quan trọng trong bộ tộc.
Chế độ cộng đồng nguyên thủy được kết thúc bằng thời kỳ đồ sắt, khi xã hội thị tộc chuyển từ mẫu hệ sang phụ hệ. Lúc này, con người đã chế được các công cụ lao động bằng sắt. Lưỡi cày sắt đóng vai trò đặc biệt hiệu quả trong phát triển nghề nông. Đây cũng là thời kỳ hình thành gia đình theo cặp vợ chồng, có nhà ở riêng. Bên cạnh các ngôi nhà chung gồm kho, bếp lò, nơi sản xuất, còn có thêm các dạng nhà của từng gia đình, được ngăn thành gian, có bếp và kho dụng cụ sản xuất riêng. Tường nhà được ghép từ thân cây. Những
nhà loại này đã được phát hiện ở vùng Bixcupinxki (Ba Lan). Gần đây, tại vùng Crưm (Ucraina) cũng đã khai quật được nhiều công trình dân sự và quân sự thuộc thời nguyên thủy .
Vào giai đoạn này, quỹ vật liệu xây dựng đã được bổ sung bằng các loại gạch không nung, các loại đá trang trí được chạm đắp công phu.
Đến những năm 4000 trước CN, của cải được làm ra ngày một nhiều. Sự tự do chiếm hữu sản nghiệp chung làm của riêng khiến cho xã hội không còn giữ được sự bình đẳng ban đầu. Đó là mầm mông của một giai đoạn phát triển mới – lịch sử loài người chuyển sang chế độ chiếm hữu nô lệ. 

Related posts