Nền văn minh cổ Hy Lạp và sự- phân kỳ của lịch sử kiến trúc

Người Hy Lạp đã sáng tạo ra một nền văn minh rực rỡ, xứng đáng được gọi là một trong những cái nôi của văn minh nhân loại. Nền văn minh này ra đời từ những năm 4000 – 2000 trước CN, khi chế độ thị tộc nguyên thuỷ tan rã, thời kỳ đồ đá chuyển dần sang thời kỳ đồ đổng, hình thành chế độ chiếm hữu nô lệ sơ khai.
Dân tộc Hy Lạp thờ nhiều vị thần, trong đó tối thượng là thần Dớt. Do không bị ảnh hưởng bởi bất cứ thứ tôn giáo nặng nề nào, không bị một chế độ độc tài hà khắc nào kìm hãm khống chế, mọi người quen sống phóng khoáng với cảnh trí tự nhiên, yêu thích cả 
vẻ đẹp tinh than lẫn sự cân đối của hình thể nên nền nghệ thuật cổ Hy Lạp đã phát triển một cách hoàn toàn tự chủ trong xu hướng hiện thực. Các loại hình nghệ thuật đểu tập trung vào việc ca ngợi sức mạnh của con người (hình 78). Có thể chinh vì điều đó mà nền nghệ thuật Hy Lạp cổ đại đã được lấy làm mẫu mực cho sự phát triển của các nền văn minh tiếp theo.
Sự phân kỳ của lịch sử kiến trúc cô’ Hy Lạp
Căn cứ vào những đặc điểm xã hội và đặc điểm kiến trúc có thể chia lịch sử kiến trúc cổ Hy Lạp ra làm ba thời kỳ:
1- Thời kỳ Tiền cổ (thế kỷ thứ VIII – thứ VI trước CN).
2 – Thời kỳ Cổ điển (Thế kỷ thứ V – thứ IV trước CN).
3- Thời kỳ Cổ đại (Thế kỷ thứ III – thứ I trước CN).

Nền văn minh cổ Hy Lạp và sự- phân kỳ của lịch sử kiến trúc 1

 Kiến trúc Hy Lạp thời kỳ Tiền cổ (từ thế kỷ thứ VIII đến thê’ kỷ thứ VI trước CN)
Thời kỳ Tiền cổ Hy Lạp được đánh dấu bằng sự ra đời của các quốc gia thành bang, trong đó Aten là một trong hai quốc gia mạnh nhất. Chế độ Cộng hoà dân chủ, sự buôn bán tự do, cuộc sống thanh nhàn, phong trào vận động thân thể và tính cách sống cởi mở trong cộng đồng đã giúp xã hội phát triển một cách toàn diện. Từ bối cảnh này đã đơm hoa kết 
trái một nền văn học, triết học, nghệ thuật, tôn giáo huy hoàng. Các loại kiến trúc đền thờ cổ Hy Lạp cũng bắt nguồn từ đây.
Nhìn một cách khái quát, đền thờ Hy Lạp là dạng kiến trúc mở, luôn tràn đầy ánh sáng và không khí .
Trên các mặt bằng đền hình chữ nhật, đơn giản nhất là những loại đền chỉ có một cửa và một gian, cửa đền có hai cột giữa và hai tường dọc chạy hai bên. Loại đền thứ hai có 4 cột độc lập ở phía trước. Rồi đến loại có cột ở cả hai phía trước và sau. Càng về sau, sô’ cột ngày càng nhiều, số cột trước từ 4 phát triển lên 6, lên 8. Cột bao quanh đền, từ một đến hai, thậm chí ba dãy cột. Có khi cột còn tràn cả vào phía bên trong đền. Phổ biến nhất là loại đền mà mỗi hồi có từ 6 đến 8 cột. Ngoài loại đền có mặt bằng hình chữ nhật, đôi khi còn bắt gặp loại đền có mặt bằng hình tròn với dãy cột hiên chạy vòng quanh.
Vật liệu xây dựng ban đầu bao gồm cả gỗ, gạch và đá. Càng về sau người ta càng sử dụng đá rộng rãi. Thời kỳ này sắt đã được dùng phổ biến để chế ra các công cụ gia công đá. Tường đá xếp khít nhau, không có mạch vữa.
Thức cột (oocđo) Hy Lạp
Nói đến kiến trúc Hy Lạp, không thể bỏ qua thức cột, bởi đây là đóng góp có tác động lớn, ảnh hưởng sâu rộng và lâu bền đến các nền kiến trúc về sau này.
Thức cột là cách thức trang trí và xử lý tỷ lệ các trụ chịu lực của ngôi nhà theo những trật 
tự đã được chỉnh lý một cách hoàn hảo (Chữ oócđơ có nghĩa là trật tự). Ba thức cột mà người Hy Lạp đã tạo ra là cột Đôri, cột lôni và cột cỏranh. Xuât xứ từ vùng nông nghiệp ở phía Bắc Hy Lạp Đôrian nên có tên gọi là cột Đôri.được áp dụng khá sớm, tư thế kỷ thứ VII trước CN .
Dáng cột này thấp đậm, đơn giản, trầm tĩnh uy nghi như sức vóc của một người lực điền. Thân cột có từ 16 đến 20 khía lõm nông. Cột không có đế mà được đặt trực tiếp lên nền nhà. Đỉnh cột xòe hình bánh dày trơn, không có trang trí. Tỷ lệ chiều cao so với đường kính cột là 4,5 :1 hoặc 5 :1. Vật liệu làm cột Đori thường là đá mầu vàng nhạt lấy từ núi Pentelich trong đất liền.
Thức cột lôni ra đời vào thế kỷ thứ V trước CN, là sản phẩm của vùng tiểu thủ công và thương nghiệp lonia – một thuộc địa của Hy Lạp. Cột có vẻ ngoài trang nhã thanh thoát, giầu tính trang trí nên được ví như thân thể của người thiếu nữ. Thân cột có 24 khía lõm sâu, đặt trên đế. Đầu cột được trang trí cầu kỳ với hai cuốn như lọn tóc. Tỷ lệ giữa chiều cao so với đường kính cột là 8 :1. Vật liệu làm cột loni là loại đá cẩm thạch màu trắng được khai thác từ đảo Paroxơ ngoài khơi.
Thức cột Côranh ra đời chậm hơn, vào cuối thế kỷ thứ V trước CN tại thành phố Cảng giầu đẹp Côranh ở miền Nam. Cột Côranh có những nét mảnh mai thon thả hơn 2 thức cột vừa nói trên, nhiều khi được đặt trên bệ có chiều cao bằng một phần tư độ dài cột. Phần đẩu cột được kết uốn như một lẫng hoa ‘làm bằng ba tầng lá phiên thảo (acan). Chuyện xưa kể rằng một chàng kiến trúc sư sau lúc đem hoa đến khóc trên mộ người yêu chết trẻ đã xúc động tạo ra thức cột này .
Cả ba thức cột Hy Lạp đều có xuất xứ từ cột gỗ, nhưng trong quá trình chuyển sang chất liệu đá, các tỷ lệ cột và khoảng cách giữa các cột đã trải qua nhiều thay đổi. Lúc đầu, cột thường được làm từ những phiến đá lớn rất khó lắp dựng, về sau cột được chia thành đoạn, ghép khít lên nhau nhờ các lõi bằng gỗ hoặc bằng sắt.
Các thức cột Hy Lạp không chỉ có ý nghĩa về mặt chịu lực, mà trước hết còn thể hiện sự hài hoà, thống nhất về đường nét giữa cột với các phần ở bên trên đầu cột, giữa kích thước cột với kích thước của con người.

Related posts