Thành phô Bắc Kinh và Tử cấm thành

Thành phố Bắc Kinh và Tử cấm thành đại diện cho kiến trúc triều Minh (thế kỷ thứ XV – XVI), mặc dù trước đó đã từng có 3 triều đại Liêu, Kim, Nguyên đóng đô ở đây.
Ngay từ thời Nguyên, nước Trung Hoa thống nhất đã đào nhiều con sông để thông thương từ Bắc Kinh tới những vùng hạ lưu sông Trường Giang, đặt những cơ sở đầu tiên cho quy hoạch Bắc Kinh.
Mặt bằng thành Bắc Kinh thể hiện rõ nét những nguyên tắc xây dựng lâu đời của Trung Quốc có bố cục đối xứng qua trục Bắc – Nam với ba vòng thành: vòng trong cùng là Tử Cấm thành (còn gọi là Hoàng cung hay cố cung), dài 960m, rộng 760m, cân xứng tuyệt đối, có tường dày bao quanh cao 10m, bên ngoài có hào rộng 52m.
Kiến trúc Tử cấm thành lại chia ra hai phần là Ngoại triều (ở phía trước) và Nội đình (ở phía sau). Ngoại triều gồm ba điện lớn. Thái Hoà lớn nhất, dài 64m, rộng 37m, cao 27m, được đặt trên bệ cao 8m. Trước điện có một sân rộng tới 3,6 ha, đây là nơi thường cử hành các nghi lễ quốc gia. Tiếp đến Trung Hoà là nơi dành riêng để nhà vua làm các công việc chuẩn bị trước khi dự ‘lễ. Sau nữa là Bảo Hoà, nơi vua thường chủ khảo các khoa thi và tham dự các buổi yến tiệc .
Bao quanh Tử cấm thành là nơi ở của quan lại, tướng sĩ, quấn thần với nhiều lâu đài, vườn hoa, công viên. Vòng ngoài cùng dành cho dân thường.
Nằm trên trục chính Bắc – Nam trong khu vực thành nội, ở phía bắc Tử cấm thành có hai tòa tháp nối tiếp nhau là Tháp Trống và Tháp Chuông. Ở ngoại thành, về phía Nam Cấm thành còn có hai quần thể lớn là Đền thờ trời (Temple Heaven) và Đền thờ thần Nông (Temple of Agriculture), cả hai khu thành nội ngoại đều được bức tường thành bằng gạch bảo vệ. Bức tường này dài tới 23,55km có 12 cổng từ ngoài vào và 3 cổng nối giữa hai khu.

Thành phô Bắc Kinh và Tử cấm thành 1

Thiên Đàn
Được xây dựng tại phía Nam thành Bắc Kinh vào năm Vĩnh Lạc thứ 18 thời Minh (1420), Thiên Đàn là nơi để các Hoàng đế Trung Hoa đến tế trời và cầu được mùa.
Ban đầu, Đàn có tên là Thiên Địa Đàn để tế cả trời và đất; song từ năm 1530, nơi đây chỉ chuyên dùng để tế trời.
Trên khu đất rộng gấp 4 lần cố cung (2.730.000m2), Thiên đàn có 3 công trình chủ yếu nằm dọc theo trục Bắc – Nam: Kỳ Niên Điện, Hoàng Khung Vũ và Hoàng Khưu Đàn (hình 284).
Nằm ở đầu Bắc, Kỳ Niên Điện là nơi vào ngày 8 tháng giêng hàng năm, nhà vua tiến hành lễ cầu được mùa. Điện hình tròn, cao
38m. Nền điện cao 6m, chia ra 3 bậc. Đường kính bậc dưới cùng 90,9m. Đường kính thân điện 20,5m. Mái điện cũng chia làm ba tầng, lợp ngói lưu ly màu xanh, kết thúc bằng một chóp nhọn. Vòm trần và mái trên cùng được đỡ bằng 4 cây cột có tên là “Cột Long tinh”, tượng trưng cho 4 mùa Xuân – Hạ – Thu – Đông. Mái giữa và mái trên cùng được đỡ bằng 24 cây cột chia thành hai vòng, mỗi vòng 12 cột tượng trưng cho 12 chi của giáp và 12 tháng của năm. Đường bao của Kỳ Niên Điện gây được cảm giác vươn lên mạnh mẽ tới tận trời, đầy vẻ thiêng liêng, huyền bí (hình 285).
Phía Nam Kỳ Niên Điện là Hoàng Khung Vũ, nơi lưu giữ các bài vị tế trời. Toà tháp này hình tròn đường kính 15,6m, cao 19,5m, mái hình tán ô do 8 cột đỡ. Bức tường bao quanh Hoàng Khung Vũ hình tròn đường kính 64m, cao 6 m có khả năng hồi âm rất tốt. Đứng ở tâm bức tường này trên phiến đá trắng của bậc tam cấp, nếu gọi một tiếng sẽ có ba iếng vọng lại. Vì vậy đá có tên là “Tam âm thạch”.
Ở đẩu cùng phía Nam của trục là Hoàng Khưu Đàn, nơi vua chúa tiến hành các buổi lễ tế trời. Đàn này có hình tròn, xây bằng đá cao 5m, chia thành 3 cấp. cấp dưới cùng có đường kính 54,7m, còn cấp trên cùng có đường kính 23m. Mỗi cấp được ngăn bằng 360 thanh lan can bằng đá trắng chạm khắc tinh vi, tượng trưng cho 360 độ của
vòng trời. Tại trung tâm của Hoàng Khưu Đàn có một phiến đá tròn gọi là “Thiên tâm thạch”. Các viên đá lát được xếp theo 9 vòng tròn đồng tâm, mỗi vòng hơn kém nhau 9 viên. Như vậy vòng trong cùng có 9 viên, còn vòng ngoài cùng có 81 viên. Hoàng Khưu Đàn được xây bằng thứ đá có khả năng phản âm kỳ lạ: một tiếng hô to từ “Thiên tâm thạch“ sẽ vang đi rất xa, như tiếng vọng của đất trời.
Bắc Kinh còn có nhiều công trình hoa viên quy mô lớn như Công viên Bắc Hải với tòa tháp trắng nổi tiếng trên đảo Tây Uyển. Chiều cao và hình bao độc đáo của tháp đã tạo được điểm nhấn đột biến cho khu trung tâm thành phố.
Thập Tam lăng toạ lạc trong một vùng đồi núi ở phía Tây Bắc thành phố, có phần mộ của 13 đời vua triều Minh. Đây là một quần thể vừa huyền bí, vừa hoành tráng với nghệ thuật hoa viên rất cao .
Thành phố Bắc Kinh phát triển suốt từ thời Tràng An (thế kỷ thứ VII) đến thời nhà Minh (thế kỷ thứ XVII) và cho tới sau này luôn giữ được sự ổn định và nhất quán trong bố cục tổng thể, đồ sộ và chuẩn xác về đường nét công trình và phong phú về màu sắc kiến trúc .
Nhân tài trong sự nghiệp kiến thiết nước Trung Hoa thời nào cũng sẵn. Thời Minh – Thanh có Bằng Tường, Dương Thanh đã xây nên các cung điện ở thành Bắc Kinh, có anh
em nhà Lục Hiền, Lục Tường xây dựng cung điện ở Nam Kinh, có dòng họ Lôi bảy đời đều chủ trì xây dựng các cung thất và vườn hoa, biệt dã nhà Thanh.
Sử sách Việt Nam và Trung Quốc còn nhắc đến một người Việt tên là Nguyễn An đã đóng góp nhiều công lao trong xây dựng thành Bắc Kinh. Theo tác giả Trần văn Giáp thì Nguyễn An, người Giao Chỉ, tính tình thanh bạch, khắc khổ,… giỏi việc kiến trúc công trình,… đã từng cho kiểu mẫu và đứng ra trông coi việc sửa sang thành Bắc Kinh, làm 9 cửa thành, sửa lại 3 điện, 6 bộ và trụ sở các ty, đắp lại đê trên khúc sông chảy qua vùng Tắc Dương… Các quan ở bộ Công chỉ việc dựa theo những kiểu do ổng vạch sẵn mà làm. Khi sắp mất, Ông đem tất cả của cải được vua ban và của riêng hiến làm quỹ công.
Tựu chung lại, tiềm năng vô tận của một quốc gia đất rộng, người đông đã góp phần tạo nên những sắc thái vô cùng phong phú về cảnh quan và công trình trên một không gian hết sức rộng lớn, dù ta có dày công cũng khó có thể tìm hiểu cho hết.

Related posts