Kiến trúc cổ lưỡng hà

kien truc co luong ha 53d07cee68604 - Kiến trúc cổ lưỡng hà

Bối cảnh thiên nhiên – xã hội
Lưỡng Hà tiếng Hy Lạp là Mesopotami, có nghĩa là vùng đất giữa hai sông, nằm kẹp giữa hai con sông Tigơrơ và Ơphơrát. Nơi đây đất đai phì nhiêu, có nhiều đường giao thông chính nối vùng núi cao với sa nridC lộng lón, nối Địa Trung Hải với vùng Cận Đông, vùng đất này cũng trù phú sầm uất không kém gì Ai Cập, từng vang bóng một thời với tên gọi “Thiên đường nơi trần thế “.
ở đây đã từng tồn tại các đô thị nổi tiếng như Jerusalem (nay thuộc Palestin), Amirth (thuộc ÍSyrie), Babilon, Ninivơ, Ashur, Ur (đều thuộc Irắc ngày nay).
Ngay từ thời xã hội nguyên thủy, ở phía nam Lưỡng Hà đã có nhiều công trình thủy lợi. Là vùng đất có đồng bằng phẳng rộng, nhiều màu mỡ, đầu mối của những tuyến đường giao thông quan trọng, nên Lưỡng Hà luôn là đối tượng giành giật giữa các quốc gia. Suốt 200 năm (thế kỷ thứ IV và III trước CN), chiến tranh liên tiếp xảy ra.
Nền văn minh cổ Lưỡng Hà có từ 4000 đến 5000 năm trước CN và phát triển song song với nền văn minh Ai Cập . Những con người trên mảnh đất này là những nghệ sĩ tạo hình tài hoa, giỏi thiên văn, biết nấu sắt, cũng chính là những người đầu tiên đã nghĩ ra chữ viết và đã xác định được độ dài của một năm là 365 ngày. Luật pháp được khắc vào đá, đặc biệt nghiêm khắc với nhà giàu. Phụ nữ được quyền bình đẳng với nam giới.
Vì ở vào nơi bình địa nên vùng này không có núi, không có đá. Vật iiệu xây dựng chính là gạch không nung và gạch nung, trong đó có nhưng mẫu gạch men nhiều mầu khá độc đáo. Chất kết dính là nhựa đường. Những cây lau sậy dài bện thành tấm phủ đất sét làm tường, hoặc trộn trong đất đầm kỹ dùng để lát nềrrLều sậy xây dựng theo cách này thường có mặt bằng hình tròn hoặc bầu dục. 

Kiến trúc cổ lưỡng hà 1

Khác với người cổ đại Ai Cập coi trọng linh hồn người chết, người Lưỡng Hà cổ đại thờ thần và sùng bái thuật chiêm tinh.
Đền đài ở đây xuất hiện trước cả sự hình thành nhà nước. Đền thờ Tepe Gaura có trước nhà nước 20 năm. Đền Eriđu có trước nhà nước 16 năm, được xây dựng đổ sộ và có bố cục đối xứng. Đền lớn nhất là đền Uruk (80m X 50m) xây vào năm 3000 trước CN.
Các đền đài cổ Lưỡng Hà nói chung đều mang nặng tính công cộng. Tường xây bằng gạch mộc gần như kín đặc, không cửa sổ. Ánh sáng lấy từ những khe trên mái. Nền được tôn cao để tránh lụt. Mái bằng làm từ các tấm lau sậy ken lại, trát đất sét rồi miết chặt. Người Lưỡng Hà cổ đại cũng đã biết dùng vòm cuốn bằng gạch vượt được những khẩu độ đến 3m. Đá được sử dụng rất hạn chế.
Đại điện Crítơ (thế kỷ thứ XVI XV trước CN) với sân trong rộng tới 1,650m2 (55m X 30m) xung quanh có nhiều loại nhà để ở, phòng ngự của vua, nhà kho, các cổng, hành lang tạo nên huyền thoại về một nơi hết sức bí ẩn.
Đài Chiêm tinh (Digurat) là loại hình kiến trúc tiêu biểu trong toàn khu vực Lưỡng Hà. Đài chiêm tinh Ur xây dựng vào khoảng thế kỷ thứ XX trước CN gồm 4 tầng và 3 thang dẫn lên đài, các tường xây nảy trụ, bằng gạch không nung . Điển hình là đài chiêm tinh thờ vua Hier, gồm 7 tầng. Đáy công trình 65m X 43m, thu nhỏ dần về phía trên. Tưởng dày xây bằng gạch mộc, chân hơi choãi, mặt ngoài được ốp bằng gạch nung .

 

Related posts