Tổng quan về nền văn minh và về nghệ thuật kiến trúc thế giới thời kỳ cổ và trung đại (P2)

tong quan ve nen van minh va ve nghe thuat kien truc the gioi thoi ky co va trung dai p2 53d07d26886f6 - Tổng quan về nền văn minh và về nghệ thuật kiến trúc thế giới thời kỳ cổ và trung đại (P2)

Những công trình công cộng phổ biến nhất trong thời kỳ cổ đại thường là nhà hát, sân vận động, nhà tắm, các khu trung tâm thành phố có chợ và nơi tiến hành hội hè, mà người Hy lạp cổ gọi là Agora, người La Mã cổ gọi là Phorum. Càng về sau, diện nhà công cộng càng được mở rộng và phát triển như các loại thư viện, trường học, tu viện, tòa thi chính v.v…
Những dạng nhà công cộng ít nhiều đã góp phần dân chủ hóa đời sống xã hội, chia sẻ một phần dù rất nhỏ các thành quả của công cuộc xây dựng tới một phạm vi dân chúng, trước hết là tầng lớp trung lưu.
Ngoại trừ các kênh mương, đường sá đi lại, cầu dẫn nước, một số doanh trại La Mã, các công trình phục vụ sản xuất và quốc phòng thời kỳ này không để lại dấu ấn gì đáng kể.
Quy hoạch dô thị có’ được phát triển từ những hình thức ấu trĩ, tự phát trong phạm vị nhỏ mang tính quần cư thời hoang sơ, tiến đến kiểu quy hoạch các thành phố hàng vạn dân theo ô bàn cờ. Do cơ cấu dân đô thị thời này còn tương đối đơn giản, thành phần chính chỉ bao gồm quan lại, thợ thủ công, người buôn bán (và dân nô lệ trong thời cổ đại) nên đô thị thường được chia làm hai khu chính: khu quý tộc giàu có và khu lao động nghèo.
Trong nghệ thuật quy hoạch đô thị cổ, khu trung tâm của một đô thị thường được chú ý nhiều hơn cả. Ở đây tập trung hai dạng công trình: nơi ở của giới thượng lưu và nơi sinh hoạt công cộng chung cho dân đô thị.
Đến thời phong kiến (Trung cổ), ở phương Tây mới phát sinh cách quy hoạch ô bàn cờ kết hợp các tia chéo, một thời gian dài được coi là “mốt”, được ưa chuông và được phổ biến ở Châu Âu.

Tổng quan về nền văn minh và về nghệ thuật kiến trúc thế giới thời kỳ cổ và trung đại (P2) 1

Nếu ở phương Tây và Nam Mỹ, nơi có nhiều núi đá, vật liệu xây dựng chủ yếu là đá được gia công bằng tay rất công phu, đã tạo nên các kiệt tác như khu đền trên đồi Acrôpôn ở Aten (Hy Lạp), các nhà thờ Gôtích v.v… thì ở các nước Châu Á (như Trung Quốc, Nhật Bản), gỗ lại được sử dụng làm vật liệu xây dựng chính. Nếu đá tạo nên sự vĩnh cửu, thì cũng đồng thời mang đến sự lạnh lẽo toát ra từ bản thân cấu trúc của chất liệu. Ngược lại, gỗ là vật liệu có độ bền thường không cao (đôi khi cũng có thứ gỗ cứng như sắt và có độ bền khá vĩnh cửu), nhưng dễ tạo được sự thanh thoát và ấm cúng.
Do khí hậu chi phối nên chiều dày tường và mái ở các nơi cũng khác nhau. Có nơi tường rất dày để chống nóng hoặc chống rét. Có nơi tường mỏng để sự giao lưu nhiệt độ 
giữa trong và ngoài nhà được dễ dàng. Có nơi mái nhà phải làm rất dốc để tránh mưa hoặc tuyết v.v…
Một điều dễ nhận thấy là việc thực hiện nguyên tắc tận dụng địa hình đã đem lại ‘những hiệu quả lớn về mặt cảnh quan nói riêng, về nghệ thuật tạo hình nói chung. Những công trình nổi tiếng như quần thể Acrôpôn ở Aten, lâu đài Himêgi ở Nhật Bản, Borobuđua ở Indonesia hay Matchu Picchu ở Pêru sở dĩ gây được ấn tượng đặc biệt chính là do được kiến tạo trên nguyên trạng của địa hình thiên nhiên. Nếu những công trình tên tuổi này bị đặt vào các khu đất bằng phẳng (một cách tự nhiên hay do con người san ủi đất núi đồi) thì chắc chắn không thể có được những hiệu quả thẩm mỹ như chúng đã có.
Khảo sát số công trình đã được xây dựng, có thể rút ra Ipốn yếu tố cần thiết tạo nên giá trị nghệ thuật của công trình như sau:
Một là cẩn một giải pháp (đáp án) sáng tạo về hình khối, dựa trên khả năng kỹ thuật của thời đại.
Nhiều khi sự sáng tạo về kỹ thuật lại đưa kiến trúc bước lên đỉnh vinh quang. Chẳng hạn kỹ thuật lợp các mái vòm đường kính lớn tới 40m, các kỹ thuật lợp mái khác nhau trong các nhà thờ Rômăng, Gôtích.
Hai là cần có các hình chuẩn về tỷ lệ tương đối và tỷ lệ tuyệt đối.
Tỷ lệ tương đối là tỷ lệ tương quan giữa các thành phần trong công trình với nhau. Ở các công trình kiến trúc cổ, sự tương quan này bao giờ cũng được xử lý một cách hài hòa, cân đối. Ví dụ: tỷ lệ giữa chiều cao so với đường kính thân cột, giữa đẩu cột, thân cột và bệ cột trong các thức cột Hy Lạp và La Mã, tỷ lệ giữa các bộ phận trong nhà thờ Gôtích v.v… Điều này cũng được bộc lộ ở các mặt bằng của hầu hết các công trình nổi tiếng.
Tỷ lệ tuyệt đối là tỷ lệ giữa công trình so với thứ thước đo ổn định là chiều cao 
con người. Đôi khi công ưình áp đảo con người (như Kim tự tháp Ai cập). Song thường thì công trình hòa hợp với con người.
Ba là việc đặt công trình vào cảnh quan thiên nhiên một cách êm dịu, làm cho công trình trở thành một bộ phận hữu cơ của thiên nhiên.
Bốn là khéo sử dụng các loại vật liệu và việc thực thi công trình một cách hoàn hảo.
Trong khi nêu giá trị nghệ thuật của kiến trúc Cổ đại và Trung đại, cần nhấn mạnh vai trò nổi bật của nền kiến trúc cổ Hy Lạp như một mẫu mực của kho tàng kiến trúc nhân loại. Đó là tính nhân văn cao trong tổ chức đô thị, sự gắn bó hài hòa vào thiên nhiên, tính thực tiễn của nội dung cũng như hình thức công trình, không chấp nhận các thành phần và chi tiết giả tạo.
Kiến trúc Hy Lạp đã đạt đến đỉnh cao trong nghệ thuật xử lý tỷ lệ, mà điển hình là số công trình nằm trong quẩn thể Acrôpôn.
Chúng ta cũng không thể quên vai trò của người tạo dựng đích thực các công trình kiến trúc – đó là đông đảo những người dân lao động. Họ là những người đục đá, chở đá, đắp đường, gọt tượng, những người đóng thuế, những người đi lính, tựu chung lại là những thày thợ và dân chúng. Họ mang trong mình sức mạnh vĩ đại để biến moi ý định, mọi hình dung, mọi ước mơ của tảng lớp trên thành hiện thực. Họ mới chính là lực lượng xây đắp và biến đổi thế giới. Tạo nên kho tàng Lịch sử Kiến trúc Thế giới cũng chính là tạo nên bộ 
mặt của hành tinh, trong đó có một phần đóng góp của các thế hệ vua chúa, và phần đóng góp lớn hơn thuộc về sức mạnh tổng hợp của người bình dân.
Trong thời đại ngày nay, từ việc nghiên cứu học tập Lịch sử Kiến trúc Thế giới, có bốn điều sau đây có thể coi là bài học:
Một là: Tôn trọng tự nhiên, lựa theo tự nhiên khi xây dựng.
Hai là: Để cao tính nhân văn trong đường lối đầu tư và trong nội dung xây dựng.
Ba là: Tính đồng bộ và sáng tạo, tính chu đáo của người thực hiện việc xây dựng và của sản phẩm xây dựng.
Bốn là: Không ngừng nâng cao dân trí, giáo dục lòng quý trọng và ý thức giữ gìn những thành quả lao động của các thế hệ.

Related posts